Tuesday, 10 May 2016
Monday, 25 April 2016
Kệ Ngôn 109 - Lòng Cung Kính Mang Lại Nhiều Phúc Lạc - TT Trí Siêu
Kệ Ngôn 109
Lòng Cung Kính Mang Lại Nhiều Phúc Lạc
|
Bậc cao niên trưởng thượng Được bốn pháp tăng trưởng: Sắc, lạc, lực, thọ mạng . Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali nicca.m vaddhaapacaayino Cattaaro dhammaa va.d.dhanti aayu va.n.no sukha.m bala.m. Minh Hạnh chuyển biên
TT Trí Siêu:Kệ ngôn 109 nói về phước thọ tăng trưởng khi người có tâm cung kính các bậc trưởng thượng.
Trước hết chúng ta nói về điều kiện để sống thọ. Ở đây, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo mỗi chúng sanh tạo thiện nghiệp khác nhau nên phát sanh tuổi thọ khác nhau . Bài kệ này Đức Thế Tôn thuyết lên trong trường hợp cậu bé Dighàyu con trai của một vị Bàlamôn gia chủ khi được một vị đạo sĩ Bàlamôn tiên tri cậu bé sống không quá 7 ngày nữa, người Bàlamôn gia chủ này khởi tâm lo lắng. .
Được người nhắc ngở, ông Bàlamôn này đến đảnh lễ Đức Phật và cầu xin Ngài cứu đứa bé. Đức Phật Ngài nói ông Balamon thỉnh Chư Thinh Văn La Hán về nhà kính lễ cúng dường và đặt đứa bé nằm ở giữa Chư Tăng ngồi chung quanh Chư Tăng sẽ đọc những bài kinh Paritta hay kinh cầu an cho đứa bé. Đến ngày thứ 7 Đức Thế Tôn thân hành ngự đến và Ngài ngồi hướng phía đầu của đứa bé. Bấy giờ toàn thể Chư Thiên, Dạ Xoa, Atula, những vị có đại thần lực đều qui tụ đến để đảnh lễ Đức Phật, Chư Tăng và nghe pháp.
Trong một tiền kiếp đứa bé Dighàyu này có sự oan trái với một con Dạ Xoa kẻ phục dịch cho vị Thiên Vương Vessavana trong suốt 12 năm, bây giờ Dạ Xoa này được ân tứ cho thoát khỏi phục dịch và Dạ-xoa đó đi tìm bắt đứa bé. Đức Thế Tôn biết rõ như vậy nên Ngài dạy gia chủ Bàlamôn cha của đứa bé thỉnh Chư Tăng những vị có đại thần lực có đại uy lực của bậc vô lậu giải thoát, những vị đó và Đức Thế Tôn ngự đến thì hàng Chư Thiên có đại thần lực như Đức Trời Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương đi đến hầu pháp khiến cho Dạ-xoa này vì không đủ phước đức và uy lực so với các vị Chư Thiên nên đã lánh xa phía bên ngoài. Và sau 7 ngày là hết thời hạn của Dạ-xoa để bắt đứa bé thế là Dạ-xoa đã bỏ đi nơi khác và đứa bé được may mắn sống sót. Sau đó Đức Phật tiên tri đứa bé này sẽ sống thọ cho đến 120 tuổi.
Thật ra, tùy theo trường hợp, tùy theo hoàn cảnh của mỗi chúng sanh, không phải tất cả những việc làm như vậy đều đưa đến tuổi thọ cho một người nếu như người đó tạo nhiều ác nghiệp trong quá khứ. Nhưng riêng về cha mẹ của đứa bé và cả đứa bé khi đó vì có sự tương kính hoan hỉ kính lễ Đức Phật và Chư Tăng cho nên chính phước báu này thêm vào đó uy lực của Đức Phật và Chư Thánh Tăng do vậy đứa bé đã thoát nạn và được sống thọ.
Ở đây, mặc dù vậy, người Phật tử nên hiểu việc chúng ta thường năng lễ bái kính lễ các bậc giới hạnh và những bậc trưởng thượng trưởng lão đó là một trong 10 pháp hạnh phúc Apacāyanamaya tức là sự cung kính. Người xưa có câu nói " kính lão đắc thọ" cũng nằm trong ý nghĩa này. Khi một người có tâm cung kính đối với những vị trưởng thượng, những bậc có đức hạnh do nguyên nhân này tạo nên phước báu về phước đức. Một khi đã có phước đức những chúng sanh này thường phát sanh tăng trưởng với 4 pháp:
1. Thứ nhất, thọ mạng sống lâu
2. Thứ hai, sắc đẹp tức là dung sắc ngoại hình khả ái dễ nhìn dễ thương.
3. Thứ ba, an vui là tâm luôn luôn có sự phấn khởi hoan hỉ
4. Thứ tư là ít có sự bệnh hoạn, ít có sự đau yếu.
1. Một người khi có tâm kính lễ đối với các bậc trưởng thượng các bậc giới hạnh, người này với thiện tâm dẹp trừ tâm kiêu mạn hạ mình trước các bậc trưởng thượng và có sự kính lễ các bậc trưởng thượng các bận niên cao lạp trưởng. Xét về mặt tâm lý chúng ta thấy rõ những người có sự cung kính bậc trưởng thượng do phước đức này phát sanh lên tuổi thọ.
2. Người với tâm cung kính người khác không có lòng kiêu mạn, không có sự cống cao hống hách, không có sự khinh thường những bậc trưởng thượng thì khi đó tâm bên trong phát hiện ra bên ngoài. Một người có tâm khiêm cung như thế sẽ hiển lộ ra bên ngoài nét mặt tự nhiên một sự khả ái từ một nội tâm hiền thiện tốt đẹp. Đó là nguyên nhân phát sanh lên sắc đẹp.
3. Phát sanh lên sự an vui có nghĩa là người có tâm cung kính tôn trọng các bậc trưởng lão những bậc có đức hạnh thì tâm người này không có sự cống cao kiêu mạn nên người này luôn luôn với trạng thái tâm hoan hỉ. Khi tâm được hoan hỉ thỏa thích người này sẽ sống trong sự an vui.
Chúng ta đặt trường hợp khi chúng ta có sự cống cao kiêu mạn đối với người khác nhứt là đối với bậc trưởng thượng những người lớn tuổi hơn mình mà mình với tâm cống cao ngã mạn thì chẳng những là các bậc trí ở trong đời nhìn vào họ sẽ khiến trách chúng ta và bản thân của chúng ta do trạng thái tâm bất thiện không bao giờ chúng ta được sự an lạc. Ngược lại, nếu một người có sự hạ mình khiêm tốn và biết kính lễ các bậc trưởng thượng bao giờ người đó cũng có tâm an vui.
Khi một người sống được an vui thoải mái như vậy nói trên phương diện bệnh đau do thân tứ đại tiếp xúc với thời tiết hay hấp thụ bởi vật thực thì không thể nào tránh khỏi sự bệnh hoạn. Tuy nhiên những bệnh phát sanh do nghiệp hoặc những bệnh sanh ra do tâm phiền não thì những bệnh đó không có đối với những người có thiện tâm. Bởi vậy khi người có tâm cung kính tôn trọng những người kỳ lão những bậc trưởng thượng thì với thiện tâm này khiến cho người này tâm luôn luôn được thoải mái được an lạc vì vậy mà không thể có phát sanh lên những bịnh hoạn.
Khi chúng ta có sự âu lo có sự phiền não, hay chúng ta có sự bứt rứt lương tâm, có sự khó chịu nội tâm thì lúc bấy giờ thân thể chúng ta cảm thấy nặng nề nóng bức và phát sanh bệnh.
Ở đây bài kệ này có giá trị ở chỗ là khi chúng ta có sự khiêm tốn có sự cung kính thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ an trú trong điều thiện nên chúng ta sẽ thành tựu được những sự hạnh phúc. Đức Phật Ngài nêu lên rõ 4 pháp tăng trưởng: sống lâu, sắc đẹp, an vui và sức mạnh.
Trong kinh MAṄGALASUTTA kinh Hạnh Phúc Đức Phật dạy :
Gāravo ca nivāto Etammaṅgalamuttamaṃ. - Cung kính và khiêm tốn là phúc lành cao thượng là 2 pháp trong bài kinh Hạnh Phúc.
Chúng ta cũng cần nói thêm vấn đề sống thọ của chúng sanh nó sẽ tùy thuộc vào ác nghiệp hay thiện nghiệp của người đó. Trong bài kinh Cùlakammavibhanga sutta Tiểu Nghiệp Phân Biệt Trung Bộ Kinh Đức Phật Ngài cũng dạy những người nào nam nữ trong đời này không có tâm não hại, không độc ác, không sát sanh, không đoạt mạng sống của chúng sanh khác do hạnh nghiệp thiện này sau khi mệnh chung sẽ được sanh về cõi trời nếu sanh trở lại làm người thì người đó sẽ được sống trường thọ. Ngược lại những chúng sanh nam nữ trong đời này có lòng ác độc, có tâm não hại sát phạt chúng sanh, cướp đoạt mạng sống của chúng sanh do hạnh nghiệp này sau khi chết phải bị đoạ vào khổ cảnh địa ngục, nếu trở lại làm người sẽ bị yểu tử. Đây là những trường hợp chúng ta phải biết rằng nó sẽ tùy thuộc vào nghiệp thiện và bất thiện mà chúng ta đã tạo trong quá khứ.
Trong trường hợp cậu bé Dighàyu Đức Phật Ngài không có nêu lên ác nghiệp ở trong quá khứ nhưng chỉ có một vài lý do gì đó mà có sự oan trái với Dạ-xoa và Dạ-xoa này tìm đến đứa bé để bắt làm vật thực để nó ăn,thì lúc đó đứa bé này chỉ cần dựa vào phước đức cung kính tôn trọng đảnh lễ Đức Phật và Chư Tăng và nhờ uy lực của Đức Phật và Chư Tăng, uy lực của các vị đại thần lực chấn giữ ở chung quanh Dạ-xoa không thể nào hiếp đáp được do vậy đứa bé được sống thọ.
Còn nếu chúng ta nói ngay trong hiện tại một khía cạnh khác cũng để giúp chúng ta thành tựu được sự sống lâu thọ mạng. Trong chú giải có đề cập đến những pháp khỉến cho người được an vui thiểu bịnh và kéo dài tuổi thọ.
1. Thứ nhứt, trong sinh hoạt hàng ngày 4 oai nghi đi đứng nằm ngồi phải được điều hòa tức là có đứng, có đi, có nằm, có ngồi trong một ngày như vậy khiến cho thân này được khỏe mạnh ít có sự bệnh hoạn do đó được kéo dài tuổi thọ.
2. Thứ hai, làm việc thích nghi, làm việc hợp thời chẳng hạn như sau khi ăn xong chúng ta đọc sách chính nguyên nhân này có thể làm cho chúng ta lâu ngày sẽ bị bệnh tiêu hóa v.v... những trường hợp đó chúng ta phải né tránh một chút. Khi chúng ta làm việc hợp thời thích nghi, cơ thể cảm thấy dễ chịu, thoải mái và vật thực đã được tiêu hóa thì lúc đó chúng ta ít bệnh hoạn và được sống lâu.
3. Thứ ba, trong chú giải nói rằng biết sắp xếp và tiết độ trong việc ẩm thực, chỉ ăn những thức ăn những thức uống nào thích nghi với thể trạng mình và dễ tiêu hóa như vậy cũng là nguyên nhân khiến cho thiểu bịnh khinh an và tăng trưởng tuổi thọ.
4. Thứ tư, trong đời sống nếu chúng ta biết tiết dục tức là tiết độ sắc dục không sống đời sống trụy lạc phí sức như vậy cũng là nguyên nhân khiến cho chúng ta được thiểu bịnh khinh an và phát sanh tuổi thọ.
5. Thứ năm, cuối cùng là hãy cố gắng giữ như thế nào để đừng cho phát sanh lên phiền não. Nếu trong đời sống một người phát sanh lên phiền não nhiều quá thì chính phiền não đó sẽ chi phối làm cho phát sanh bệnh hoạn và bị giảm thọ.
Ở đây, trong Atỳđàm Vi Diệu Tạng giải thích người khởi lên tâm thiện thì sắc tâm sẽ tốt, chúng ta gọi là sắc tâm thiện được tươi nhuần. Còn nếu người khởi lên tâm bất thiện như tâm tham, tâm sân hoặc tâm si chẳng hạn sắc tâm sẽ bị héo sào do đó dễ phát sanh bệnh hoạn.
Như có những bệnh liên quan đến tâm phiền não chẳng hạn như bệnh trầm uất tức là căng thẳng thần kinh hoặc bệnh cao áp huyết hoặc những bệnh tai biến mạnh máu não chẳng hạn thì những bệnh đó chúng ta thấy phần lớn ảnh hưởng vào nội tâm người đó, nếu người này có sự lo âu phiền não nhiều bấy giờ huyết áp sẽ tăng hoặc trong lúc người này có sẵn bịnh cao áp huyết nếu người này khởi lên sự lo sợ thình lình thì người đó sẽ bị vỡ mạch máu là bị tai biến có thể bại liệt nửa thân người chẳng hạn thì trong trường hợp chúng ta thấy có những bệnh nguy kịch như thế đó.
Có những người khi họ phát sanh tâm ái tâm luyến quá mạnh họ cũng phát sanh bệnh như bệnh tương tư, sân hận giận dữ nhiều cũng phát sanh bệnh. Như vậy, nếu chúng ta muốn được phát sanh lên sự an lạc, thoải mái yên vui để tăng trưởng tuổi thọ thì chúng ta cố gắng hạn chế những phiền não như vậy.
Bằng mọi phương tiện Đức Phật Ngài đã thuyết pháp cho chúng sanh biết rõ những nguyên nhân nào đưa đến sự an vui và tránh đi những nguyên nhân nào đưa đến sự đau khổ. Trong sự an vui đó có những hạnh phúc như trường thọ sống lâu, sự an vui thiểu bịnh, hay sức mạnh, hoặc dung sắc thù thắng mỗi một pháp như thế chúng ta tìm thấy rải rác trong kinh điển chỗ này chỗ kia Đức Phật cũng thường hay dạy những pháp tu tập để phát sanh lên.
Trong 2 pháp làm cho sinh đẹp (Sobhaṇakaranadhamma) Đức Phật Ngài nhấn mạnh pháp kham nhẫn (Khanti) và nghiêm tịnh (Soracca). khi một người có đức tánh kham nhẫn chịu đựng trước những nghịch cảnh không tỏ lộ sự bất bình không có sự giận dữ cau có người này sắc diện sẽ được đẹp, tướng mạo sẽ được đẹp, người có sự nghiêm tịnh về thân về khẩu tức là lúc nào cũng có một sự an trú ở trong một pháp thiện không để cho tâm bị chi phối thì người này sẽ trở nên đẹp.
Ở đây, trong ý nghĩa này cho chúng ta thấy mỗi một thành tựu kết quả tốt đẹp là do một nguyên nhân thiện pháp khác nhau chứ không phải chỉ có một thiện pháp mà có thể thành tựu được bởi vì chúng sanh đa dạng và nhất là chúng sanh có hạnh nghiệp đa dạng khác biệt nhau tùy theo trường hợp mà Đức Phật Ngài thuyết.
Như trường hợp Đức Phật Ngài thuyết 4 pháp tăng trưởng sống lâu sắc đẹp an vui sức mạnh hằng có đến người năng kính lễ bậc cao niên trưởng thượng thì chúng ta phải hiểu trong trường hợp đó Đức Thế Tôn Ngài thuyết hạn hữu cho một số chúng sanh không có tạo ác nghiệp sát sanh ở trong quá khứ để tạo nên quả báu khổ đau trong hiện tại. Một khi có một ác nghiệp chi phối rồi thì dầu cho chúng ta có làm những điều như vậy thì cũng không thể nào tương xứng được.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh Anguttara Nikaya Đức Phật Ngài cũng có dạy:
"Người bố thí vật thực cho người khác đem lại cho người thọ thí sự sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh và trí tuệ biện tài do vậy thí chủ người bố thí vật thực cũng sẽ được thành tựu sự sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh và trí tuệ biện tài".
Đây là một điều chúng ta cần phải suy nghĩ và đó là một pháp chúng ta cần phải hết sức cẩn thận khi chúng ta suy xét, đó là một điều hết sức là lý thú khi chúng ta thực hành theo giáo pháp của Đức Phật. Chúng ta thực hành những pháp môn nào cũng được nếu là thiện pháp thì đều có tác dụng tốt đẹp.
Do đó,ở đây khi chúng ta nghe bài kệ pháp cú này thì đừng nghĩ rằng duy nhất chỉ có một pháp là chúng ta có sự cung kỉnh đảnh lễ bậc trưởng thượng là chúng ta đủ để phát sanh lên sự sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh mà còn nhiều phương pháp khác nhiều thiện pháp khác nữa tùy theo trường hợp Đức ThếTôn Ngài thuyết giảng.
Bài kệ này chúng tôi xin được chia sẻ cùng với qúi vị Phật tử chúng ta trong bài học hôm nay là như vậy./.
|
Saturday, 2 April 2016
Kệ Ngôn 108 - Sự cầu phúc hợp đạo - TT Bửu Chánh
Kệ Ngôn 108
Sự Cầu Phúc Hợp Đạo
|
Cả đời cúng tế vật Để cầu mong phúc đức Không sánh một phần nhỏ Kính lễ bậc chánh trực . Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali Sa.mvacchara.m yajetha pu~n~napekkho Sabbam-pi ta.m na catubhaagameti Abhivaadanaa ujjugatesu seyyo. Minh Hạnh chuyển biên và tóm tắt
TT Bửu Chánh: Trên thế gian bất luận tế vật hay vật thực nào ta có thể cúng dường trong mỗi năm để tạo phước, tất cả những vật ấy không bằng đảnh lễ bậc chánh hạnh cao thượng.
Đây là câu kinh Pháp Cú mang tính so sánh. Trong câu kinh Pháp Cú 108 đọc lên chúng ta thấy so sánh giữa những lễ vật hay vật thực cúng dường và thực tế ở đây ám chỉ để tế thần, dầu việc làm đó chúng ta thực hiện cả trăm năm để mong cầu có phước báu, tất cả những điều ấy không bằng 1/4 sự đảnh lễ các bậc chánh hạnh cao thượng.
So sánh giữa một người có niềm tin khi chúng ta cúng dường lễ vật để tế thần, niềm tin đó không mang lại công đức phước lành bằng đảnh lễ bậc chánh hạnh.
Lễ vật ở đây là gì? Theo bảng chú giải lễ vật ở đây là những gì người ta dâng tặng trong các dịp lễ, và cái gì người ta sắm sửa để dâng tặng với một niềm tin sẽ gặt hái được kết quả trong vòng nghiệp.
Chữ Yittham là lễ vật để tế lễ
huta.m là lễ vật gì đó mua để biếu tặng hoặc dâng tặng với niềm tin sẽ được gặt hái quả trong việc làm đó.
Ý nghĩa của câu kệ này là đảnh lễ một vị Thánh người đã thành tựu Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán nghĩa là bậc chánh hạnh. Ở đây, trong câu kệ này ám chỉ các vị đã giác ngộ giải thoát là Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán.
Trong phần duyên sự; một người bạn của Trưởng Lão Xá Lợi Phất Sariputta hàng năm tiêu phí rất nhiều tiền để giết các thú vật làm lễ tế thần và Đức Phật thuyết phục ông ta trở về phương pháp cúng dường chơn chánh. Như vậy câu kinh này ám chỉ những lễ vật cụ thể như giết thú để tế thần lửa với niềm tin được nhiều công đức, Đức Phật Ngài dạy công việc làm đó không mang lại công đức trong khi chỉ cần đảnh lễ một vị Thánh nhân một vị đắc được Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán có phước báu to lớn.
Câu chuyện duyên sự xảy ra tại Ấn Độ và ngày hôm nay còn một số người vẫn tin giết thú tế thần có nhiều phước báu, và rõ rệt nhất tại nước Nepal trên đường đi từ Ấn Độ đến nước Nepal hướng đến thung lũng Kathmandu thủ đô của Nepal là nước giáp với Ấn Độ. Tại Nepal có vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Bồ Tát đản sanh vẫn còn tục lệ giết thú để tế thần lửa dọc theo con đường đi từ Ấn Độ đến nước Nepal. Nepal ngày xưa nằm trong phạm vi nước Ấn Độ cổ đại, hiện nay đã tách ra thành nước nhỏ.
Như vậy sự cúng dường bằng cách giết thú để tế thần điều đó không mang lại kết quả lợi ích nào trong khi chỉ cần đảnh lễ một vị đă đắc Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán phước báu vô cùng to lớn. Như vậy ở đây sự so sánh giữa một người tin theo thần quyền phải dùng tới những lễ vật như thú vật và những lễ vật này mang tính phải giết hại với niềm tin như vậy chúng ta tạo thêm tội không giữ giới sát sanh.
Trong 5 giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, và không dùng các chất say. Thì giới đầu tiên là sát sanh . Và nếu như một người dùng lễ vật bằng hành động sát sanh giết hại chúng sanh để tế thần như vậy không những không có phước mà lại có tội và mang cái nghiệp sát sanh. Và nếu người nào mong cầu phước báu thì chỉ cần đảnh lễ bậc Thánh nhân bậc đã thành tựu giải thoát đã đắc Tu Đà Hoàn đã diệt trừ phiền não, Tư Đà Hàm đã làm giảm nhẹ dục ái và sân đắc. A Na Hàm đã dứt trừ dục ái và sân. Và đắc A La Hán là đã diệt tận ái sắc ái vô sắc ngã mạn phóng dật và vô minh.
Thì đãnh lễ cúng dường suốt năm cúng tế thú vật để cầu phước cả đời cũng không bằng 1/4 kính lễ bậc chánh trực. Bậc chánh trực ở đây hay là bậc chánh hạnh, là các vị Thánh nhân Tư Đà Hàm hay A Na Hàm, A La Hán.
Đề cập đến vấn đề cúng dường trong Trung Bộ kinh, bài kinh Cúng Dường Phân Biệt (Dakkhinàvibhanga sutta) Đức Phật Ngài dạy: Bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có trăm phần công đức. Bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có ngàn phần công đức. Bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có đem lại trăm ngàn lần công đức. Bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có đem lại vô số vô lượng công đức. Và bố thí cho một vị trên đường để chứng Tu Đà Hườn to lớn nhưng cũng không bằng bố thí cúng dường cho vị đã đắc Tư Đà Hàm. Vị đã đắc Tu Đà Hườn phước báu to lớn rồi nhưng cũng không bằng bố thí cho vị trên đường đắc Tu Đà hàm. Bố thí cho người trên đường đắc Tư Đà Hàm phước báu to lớn không bằng Tư Đà hàm. Bố thí cho người trên đường đắc Tư Đà Hàm phước báu không bằng bố thí cho người trên đường đắc A Na Hàm. Bố thí cho người trên đường đắc A Na Hàm phước báu to lớn cũng không bằng người đã đắc A Na Hàm. Bố thí cho người đắc A Na Hàm phước báu đó to lớn rồi cũng không bằng cho người trên đường đắc A La Hán. Bố thí cho người trên đường đắc A La Hán cũng không bằng bố thí cho các bậc A La Hán phước lớn không bằng bố thí cho Phật Độc Giác Bích Chi Phật. Bố thí cho vị Phật Độc Giác phước báu to lớn rồi cũng không bằng bố thí cho cúng dường đến Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Cúng dường đến Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác to lớn rồi nhưng cũng không bằng cúng dường đến Tăng Chúng.
Như vậy phước báu chúng ta cúng dường chúng tôi đã nhắc lại kinh Trung Bộ Đức Phật Ngài theo thứ tự 14 đối tượng để cúng dường và theo thứ tự từ thấp lên cao.
Riêng chúng ta giết chúng sanh để cúng tế thần lửa như tập tục của người Ấn Độ thờ thần lửa thời xưa mà hiện nay tại Ấn Độ và xứ Nepal xứ rõ nhất vẫn còn giết những con dê để tế thần lửa, đó không phải là sự cúng dường theo nghĩa bố thí mà đó là một sự sát hại chúng sanh. Niềm tin có một vị thần linh Thượng Đế trong Phật giáo phủ nhận điều này, Phật Giáo không chấp nhận Thần Linh và Thượng Đế Phật Giáo không chấp nhận. Việc làm tế lễ này mang tánh cách để thần quyền, không những không có phước báu mà còn có tội nữa.
Trong câu kinh Pháp Cú 108, khi mình làm những việc tế lễ thần linh bằng cách giết hại chúng sanh dù có làm cả năm trời như vậy cũng không có phước báu không bằng 1/4 chỉ đảnh lễ các vị Thánh chứng đắc đạo quả.
Sự đãnh lễ gọi là abhivandati trong tiếng Pali.
Đảnh lễ đến các vị bậc Thánh nhân, các bậc Alahán Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác. Bậc chánh hạnh hay bậc chánh trực hay bậc Thánh nhân ở đây ám chỉ các vị đắc các quả Thánh. Ví như mình gieo một hạt giống trên một mảnh đất màu mỡ đầy chất phân chất nước trên một mảnh đất tươi tốt thì quả phúc vô cùng to lớn. Còn nếu mình gieo trên mảnh đất khô cằn chắc chắn nó không lên được nhiều khi nó chết. Muốn có sự phước báu thì mình phải gieo trên một mảnh đất màu mở tươi tốt thì chúng ta sẽ gặt hái được.
Đức Phật Ngài dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn trên cõi trời có nhiều vị Chư Thiên dâng hoa trời cúng dường Ngài, cũng có nhiều người đến đảnh lễ Ngài nhưng Đức Phật Ngài nói sự cúng dường đó không bằng giới hạnh của sự tu tập của chính mình. Như vậy một vấn đề khác chúng tôi muốn nói sự cúng dường bằng tâm của mình, bằng tâm định. Sự cúng dường đến một cách cao thượng đó là sự cúng dường bằng sự tu tập giới định tuệ của mỗi người chúng ta./.
|
Tuesday, 15 March 2016
Kệ ngôn 107 - Không phải tín thành nào cũng quí - TT Pháp Nhiên
Kệ Ngôn 107
Không phải tín thành nào cũng quí
|
Chốn sâu thẳm rừng thiêng Không sánh bằng giây phút Kính lễ bậc thánh hiền Phút giây qui ngưỡng ấy Hơn trăm năm kỳ yên . Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali aggi.m paricare vane Eka~nca bhaavitattaana.m muhuttamapi puujaye Saa yeva puujanaa seyyo ya~nce vassasata.m huta.m. Minh Hạnh chuyển biên
TT Pháp Nhiên:Trong duyên sự kệ ngôn 107 : Trưởng Lão Xá Lợi Phất đến thăm người cháu. Trưởng Lão hỏi người cháu của mình vốn là vị đạo sĩ thờ lửa trong thời gian tu tập như vậy thì thường làm thiện sự nào. Người cháu bạch với Tôn Giả Xá Lợi Phất cứ mỗi tháng như vậy ông giết một con vật để tế thần lửa. Ngài Xá Lợi Phất hỏi làm như vậy nhằm mục đích gì? Người cháu của Ngài bạch rằng "Thông qua các vị thầy của ông việc tế thần lửa là con đường dẫn đến phạm hạnh dẫn đến Phạm Thiên giới". Khi nghe câu trả lời của người cháu trai Ngài Xá Lợi Phất nói con đường dẫn đến Phạm Thiên giới không phải như vậy và người biết con đường đưa đến Phạm Thiên chính là Đức Phật. Sau đó Trưởng Lão Xá Lợi Phất dẫn người cháu của mình đến gặp Đức Phật và khi gặp Đức Phật câu chuyện được trao đổi giữa hai người được lập lại trước mặt Đức Phật, nhân đó Đức Phật thuyết câu kệ ngôn này.
Ngày xưa theo cổ lệ tôn giáo Ấn Độ trong đó có Balamon giáo và trong giáo lý Balamon giáo có hình thức thờ lửa. Riêng đối với Phật tử VN có thể chúng ta xa lạ với hình thức này. Tôi xin trình bày như sau: Ở trong các sớ giải có kể các vị tu sĩ thờ thần lửa có những nguyên tắc rất chuẩn mực, một người theo Balamon giáo chấp trì hạnh nguyện thờ lửa khi con em ở trong gia đình mới vừa sanh ra đời họ thắp cho đứa bé một ngọn lửa, trong khoảng thời gian đứa bé còn nhỏ cha mẹ hay những người thân những người có bổn phận đối với đứa bé đó giữ gìn ngọn lửa cháy suốt trong khoảng thời gian đứa bé còn nhỏ cho đến khi trưởng thành, sau khi trưởng thành họ giao trách nhiệm chăm sóc ngọn lửa đó cho người thiếu nữ hoặc cậu thanh niên đã hoàn toàn trưởng thành. Với một người theo đạo Thần Lửa họ xem đó là một ngọn đuốc thiêng giống như một vị thần hộ pháp và họ tin tưởng vị thần hộ pháp này sẽ dẫn dắt họ về cõi trời Phạm Thiên. Người cháu của Tôn Giả Xá Lợi Phật cũng là một vị đạo sĩ thờ thần lửa, do vậy khi gặp lại Trưởng Lão Xá Lợi Phất người cháu của mình thuật lại tất cả những gì về nghi thức tôn giáo cho Trưởng Lão nghe. Sau khi Trưởng Lão nghe người cháu của mình thuật lại như vậy Trưởng Lão dẫn người cháu đến Đức Phật và Đức Phật đã thuyết câu kệ ngôn trên.
Câu kệ ngôn này nhắc chúng ta nhớ trong Tiểu Bộ Kinh tập Jataka (Truyện Tiền Thân) kể lại câu chuyện tiền thân của Đức Phật khi Ngài còn là Bồ Tát, Đức Phật Ngài kể trong một tiền kiếp nọ Ngài là một vị đạo sĩ trong giòng giõi thờ Thần Lửa, Ngài lớn lên cũng theo truyền thống giữ gìn ngọn Lửa thiêng cha mẹ để lại. Khi đó Ngài với tâm lý xuất gia cao độ Bồ Tát từ bỏ gia đình sống trong am thất tại một cánh rừng nọ. Một hôm có việc Ngài phải xuống làng tìm những vật dụng cần thiết cho đời sống vị đạo sĩ. Trong khi Ngài đi xuống làng rời khỏi am tranh bất chợt có một cơn giông thổi đến và ngọn Lửa Thiêng Ngài đang thờ do vì ngọn gió thổi bạt vào vách thiêu rụi âm tranh của Ngài. Khi Đức Bồ Tát tìm tất cả những vật dụng cần thiết xong trở về Ngài thấy am tranh của Ngài đã bị ngọn Lửa Thiêng cháy rụi. Ngài khởi lên một nhận xét ngọn Lửa Thiêng mình tôn thờ từ hồi nhỏ do cha mẹ trao lại bây giờ Ngài trưởng thành Ngài luôn luôn một lòng tôn kính và lòng tin đó đã được đáp trả lại bằng một việc rất phũ phàng ngọn Lửa Thiêng đó đã đốt cháy rụi am tranh của Ngài. Qua sự kiện đó Đức Bồ Tát Ngài nhận ra có những việc chúng ta theo tập tục truyền thống hoàn toàn không có lợi ích gì cho mình như việc thờ Thần Lửa.
Câu chuyện người cháu trai của Tôn Giả Xá Lợi Phất giống như câu chuyện tiền thân của Đức Phật khi Ngài còn là bồ tát. Qua đó Đức Phật dạy nếu một người sưốt một trăm năm thờ tự như vậy, với thời gian đó không bằng một người chỉ trong một giây phút ngắn ngủi lễ bái cúng dường đến một vị Thánh nhân thật sự phước báu hơn nhiều.
Chúng tôi nhắc lại, khi chúng ta đọc tất cả các bản kinh Nikaya (Tiểu Bộ Kinh) sẽ thấy một điều rất đặc biệt, riêng đối với bản kinh Pháp Cú. Lấy ví dụ, khi đọc Trung Bộ Kinh tất cả các bài kinh được các vị A Xà Lê kết tập các Ngài chọn nhiều lý do để làm đề bài kinh. Chẳng hạn có một bài kinh các Ngài A Xà Lê lấy nội dung kinh để làm đề bài kinh, có bài kinh khác các Ngài A Xà Lê lấy đối tượng thuyết kinh Đức Phật Ngài thuyết cho ai tên tuổi của người đó sẽ được các Ngài làm đề bài kinh, ở trong một trường hợp khác các Ngài lấy một hình ảnh ví dụ nổi bậc nào đó trong bài pháp thoại thì các Ngài làm đề bài kinh, trong trường hợp khác nữa các Ngài lấy địa danh nơi thuyết giảng bài kinh đó làm đề bài kinh. Riêng trong tập kinh Pháp Cú này hầu hết 26 phẩm được các Ngài A Xà Lê lấy nội dung của mỗi câu kệ ngôn làm đề bài kinh và việc chọn tựa đó có ngụ ý. Do vậy, các vị Giảng Sư đã trình bày mỗi phẩm kinh Pháp Cú như vậy thì tên của Phẩm như vậy, thì chúng ta cần lưu ý.
Bài kinh Pháp Cú chúng ta đề cập hôm nay là phẩm Ngàn. Trong phẩm Ngàn khi chúng ta đọc hết phẩm này chúng ta thấy hai con số đó là số ngàn hay số 100 năm. Thì số ngàn chỉ là con số ước lệ chỉ một việc gì đó rất là nhiều. Rồi con số 100 năm là con số chỉ về giới hạn kiếp sống của con người. Trong bài học ngày hôm nay chúng ta có dịp gặp lại con số 100 năm Đức Phật Ngài đề cập thì 100 năm đó do vì trong khoản thời kỳ tuổi thọ của chúng ta ngày hôm nay kể từ thời Đức Phật cho đến chúng ta kiếp sống của nhân sinh trên dưới 100 năm. Khi Đức Phật Ngài đề cập con số 100 năm thì Đức Phật Ngài thuyết pháp vào bối cảnh đối tượng thuyết kinh và người nghe trong tuổi thọ 100 tuổi. Do đó chúng ta cũng phải hiểu thêm trong thời gian khác tức là ở trong những thời kỳ chúng sanh có tuổi thọ nhiều hơn thì nội dung của bài kinh này thời gian có thể được kể nhiều hơn.
Thì ở trong bài kinh Đức Phật Ngài đề cập đến con số 100 năm là tuổi thọ của một đời người và nếu như vào thời gian nào đó tuổi thọ nhân loại có cao hơn là 200 năm, 1,000 năm và 10,000 năm thì ở đây theo sự hiểu biết cá nhân tôi (xin quí vị nhớ cho ở đây là sự hiểu biết cá nhân), tôi chưa đọc bản sớ giải nào nói về con số này thì dầu cho chúng ta có sống nhiều hơn nữa thì Đức Phật vẫn nói rằng là nếu cả một đời sống của chúng ta chỉ không giới hạn ở trong 100 năm đó nếu chúng ta làm công việc vô ích thì không bằng ở trong thời gian ngắn ngủi chúng ta làm việc hữu ích.
Bài học ngày hôm nay nhân một duyên sự Đức Phật thuyết câu Pháp Cú này cho một người nghe là một vị Balamon vị tu sĩ thờ lửa ở trong một bối cảnh chúng sinh với tuổi thọ như vậy, Đức Phật Ngài dạy dầu cho chúng ta sống cả trăm năm tức là chúng ta sống suốt cả đời như vậy và chúng ta làm công việc như giết hại chúng sinh nào đó nhằm vào việc tế tự thì Đức Phật Ngài dạy công việc đó không bằng chúng ta trong một giây phút ngắn ngủi cúng dường đến các bậc Thánh nhân.
(tape 2)lời người chuyển biên: vì đường Net trục trặc ghi âm vị đứt quãng do vậy xin tóm tắt như sau:
Trong một pháp hội, một vị thiên nhân đã ngồi trước các vị thiên tử nên bị các vị thiên tử phản đối. Vị thiên nhân này đã có thời gian phụng sự Tôn Giả Kaccàyana 3 tháng mùa mưa. Vị thiên nhân bạch với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn chỉ có khoảng thời gian 3 tháng con cung dưỡng cúng dường Tôn Giả Kaccàyana. Hôm nay, con ngồi ở đây vì con đến trước con ngồi trước đó là việc rất bình thường, các vị Thiên Tử đến sau thì các vị ngồi sau đó cũng là lẽ tất nhiên. Và con không cảm thấy về phương diện công đức phước báu con thua sút những vị ấy và do vậy con vẫn an vị tại chỗ.
Do vậy. Một việc làm phù hợp với đạo đức ở trong giới luật của bậc Thánh Đức Phật Ngài nói rằng việc làm đó vẫn qúi hơn nhiều.
Chúng tôi xin được phép trình bày ngắn gọn câu kệ ngôn 107 như vậy.
Và trước khi kết luận bài giảng chúng tôi xin được nhắc lại câu chuyện của Đức Phật Ngài kể khi Ngài còn là vị bồ tát tên là Balamon Velama. Trong tiền thân này Đức Phật Ngài kể rằng là khi Ngài ở trong một sanh thủ Ngài làm rất nhiều thiện sự. Trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật Ngài kể khi đó Ngài dành rất nhiều tài sản để làm việc thí, Ngài dành rất nhiều thời gian để làm các công việc từ thiện xã hội. Tuy nhiên với một thời gian dài, với tài sản bỏ ra thì những kết quả Ngài gặt hái được không đáng là bao. Bởi vì trong khoảng thời gian đó Ngài không có gặp một vị Thánh nào và đối tượng của Ngài và cách Ngài làm chỉ là một cách làm của một người có một lòng tốt. Tuy nhiên vì lòng tốt đó chỉ được làm với một suy nghĩ rất đơn giản, do đó kết quả không có to lớn là bao nhiêu
Chúng tôi muốn nói, ngay cả việc làm thiện sự như vậy còn cho chúng ta kết quả chênh lệch khác nhau huống nữa là giữa việc làm thiện và ác thì sẽ có kết quả khác nhau như thế nào. Chúng tôi xin được tóm tắt như vậy ./.
|
Monday, 22 February 2016
Kệ Ngôn 106 - Tín Ngưỡng và Tín Tâm - TT Trí Siêu
Kệ Ngôn 106
Tín Ngưỡng và Tín Tâm
|
Cúng bái đến trăm năm Không sánh bằng một phút Cúng dường bậc chân tăng Những thiện hạnh như thế Tế tự nào sánh bằng . Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali yo yajetha sata.m sama.m Eka~nca bhaavitattaana.m muhuttamapi puujaye Saa yeva puujanaa seyyo ya~nce vassasata.m huta.m. Minh Hạnh chuyển biên
TT Trí Siêu:Kinh Pháp Cú kệ ngôn 106 được Đức Thế Tôn thuyết tại Veluvana Trúc Lâm. Duyên khởi Đức Phật thuyết cho người chú của Tôn Giả Xá Lợi Phất, một vị Bàlamôn với tín ngưỡng hàng tháng bỏ ra 1000 đồng vàng để các vị Bàlamôn cúng tế. Tôn Giả Xá Lợi Phất vì bi mẫn muốn tế độ quyến thuộc nên Ngài đã hướng dẫn người chú của mình đến diện kiến Đức Phật và Đức Phật đã thuyết bài kệ ngôn 106
Bài kệ đã được Đức Phật thuyết với ý nghĩa chúng ta sẽ nghe và sẽ thảo luận về vấn đề tín ngưỡng và lòng tịnh tín trong đạo Phật giá trị như thế nào. Trước hết chúng ta hãy bàn qua về ý nghĩa thờ cúng tế tự.
Thưở xưa khi Đức Thế Tôn chưa xuất hiện và sau khi Ngài xuất hiện tại Trung Ấn Độ bấy giờ người dân xứ Ấn Độ theo rất nhiều môn phái và những môn phái đó có một khuynh hướng tín ngưỡng tế tự thờ các vị thần như thờ thần lửa hoặc thờ bò, thờ chó hoặc thờ rắn v.v... Có một số Bàlamôn họ tế tự với mục đích để được sanh về cõi Phạm Thiên. Mặc dù với những tín ngưỡng đó nhưng họ luôn luôn áp đặt niềm tin của tín đồ thực hiện những nghi thức theo như Đức Phật nhận xét đó là những nghi thức thật vô ích, những nghi thức có thể đưa đến sự sát hại sinh linh như giết người, giết vật lấy máu cúng tế, mỗi một lần cúng tế như vậy họ tốn rất nhiều tiền bạc và công sức để làm một buổi lễ. Khi Đức Phật xuất hiện ở đời Ngài thuyết pháp chỉ dạy chúng sanh về cách tế tự có lợi ích hơn.
Kệ ngôn 106, người chú của Tôn Giả Xá Lợi Phất là một vị Bàlamôn sùng đạo Bàlamôn muốn cầu sanh về cõi Phạm Thiên, ông giàu nên ông đã bỏ tiền ra cả ngàn đồng để nhờ các vị Bàlamôn đạo trưởng làm những cuộc lễ tế thần. Đức Thế Tôn đã thuyết lên bài kệ để nói lên giá trị của một người có tâm tịnh tín cúng dường đến các bậc chân tu sự tế tự này sẽ có giá trị hơn và đạt được quả báo cao hơn.
Mới nghe qua chúng ta đừng nghĩ Đức Thế Tôn Ngài muốn tán thán về sự cúng dường đến các vị đệ tử của Ngài và Ngài, không phải như vậy.
Ở đây chúng tôi sẽ phân tách trạng thái tâm của người cúng dường và nói sự cúng dường như thế nào có được quả báu lớn.
Sự bố thí cúng dường, sự bố thí đó là một hình thức, Đức Phật Ngài dùng danh từ yajetha để chỉ cho sự cúng dường, sự bố thí.
Và hutam: là sự hiến cúng, tế tự. Nhưng sự cúng tế này lại mang một giá trị khác, một tác dụng khác.
Theo chánh ngữ hình thức dân gian một người có niềm tin có sự tín ngưỡng theo một đạo nào, một môn phái nào, niềm tin của họ không cần phải xử dụng trí tuệ, không cần phải suy nghĩ đúng hoặc sai họ chỉ biết tin và họ chỉ biết phải làm theo những gì thuộc về tín điều ghi trong kinh điển của họ buộc tín đồ phải tin tưởng và phải cầu nguyện và họ bất chấp sự đau khổ của chúng sanh khác, bất chấp những hành vi tội lỗi đem đến sự bất an cho người khác, chẳng hạn, những con người hoặc những con vật bị làm hi sinh tế lễ, họ không cần biết những chúng sanh này có sự đau khổ hay không và làm như vậy có lợi ích hay không và đối tượng thần linh mà họ cúng tế đó có chứng minh được hay không và có hoan hỉ chấp nhận như vậy hay không, họ không cần biết, họ chỉ biết thánh điển kinh điển của họ dạy như thế nào họ làm như vậy.
Sự tín ngưỡng nhân gian, một tôn giáo hành động mù quáng không có trí tuệ, không có chánh tri kiến , không có đem lại lợi lạc cho chúng sanh, không đem lại lợi ích cho mình chắc chắn điều đó sẽ không có kết quả như mong muốn. Bởi vì những người nào tầm cầu sự an lạc dùng gậy trượng hại người thì người đó sẽ không được sự an lạc do hành vi bất chánh của họ.
Cũng giống như một người muốn lấy dầu thực vật nhưng thực tế họ không biết cách ép dầu thay vì phải dùng đến đậu phụng hoặc mè để ép dầu nhưng họ lại lấy sỏi hay lấy cát ép và họ nghĩ rằng họ sẽ lấy được dầu. Mong muốn là khác, hành vi trái với sự thực trái với lẽ đạo là khác, không đúng theo cách thức trí tuệ thì hành động đó sẽ không bao giờ được thành tựu như ý.
Một người muốn sanh lên cõi Phạm Thiên, cộng trú với Phạm Thiên thì họ phải an trú với pháp môn vô lượng tâm hay bốn pháp phạm trú như Đức Phật đã từng thuyết giảng hoặc các vị Alahán đã từng thuyết giảng cho các vị Balamon. Thì thay vì làm như vậy họ lại nghĩ rằng giết người giết vật sát hại sanh linh để lấy máu tế thần lửa sẽ được sanh về cõi Phạm Thiên đây là một điều chỉ tổn phí công sức và đưa đến sự thiệt hại về tâm lý đạo đức chứ không có lợi ích gì.
Còn ở đây khi Đức Phật Ngài dạy sự tế tự: Nếu một giây phút cúng dường đến một vị đã thật sự giác ngộ như các vị thánh đã đạt đến thánh vức, như những vị thấp nhất những vị đã đạt được quả vị Tư Đà Hoàn, những vị đã đoạn tận ba kiết sử thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, và cao nhất là vị Alahán đã hoàn toàn thanh tịnh tam nghiệp đã được trong sạch, phiền não đã được đoạn trừ với tâm mát lạnh với tâm từ bi vô lượng với giới đức thanh tịnh trang nghiêm quả thật sự cúng dường cho một bậc thánh nhân như thế dầu cho một giây phút cũng hơn cả trăm năm bỏ tiền ra để tế tự.
Tại sao vậy?
Trong Tăng Chi Bộ kinh Đức Phật Ngài có giải thích có bốn sự kiện cúng dường:
1 - Có những cuộc bố thí cúng dường thanh tịnh ở người cho nhưng không thanh tịnh ở người nhận. 2 - Có những cuộc bố thí cúng dường không thanh tịnh ở người cho mà thanh tịnh ở người nhận. 3 - Có nhiều cuộc bố thí cúng dường thanh tịnh ở người cho và thanh tịnh ở người nhận. 4 - Có những cuộc bố thí cúng dường không thanh tịnh ở người cho cũng không thanh tịnh ở người nhận.
Trong bốn sự bố thí này, sự bố thí nào thanh tịnh ở người cho và cũng thanh tịnh ở người nhận phước báu lớn nhất vô lượng công đức.
Sự bố thí cúng dường thanh tịnh ở người cho nhưng không thanh tịnh ở người nhận phước báu chỉ là một sự khiếm khuyết thiên nặng về hạnh tu tập của một vị Bồ Tát. Vị Bồ Tát khi Ngài bố thí cho ai đó lúc bấy giờ Ngài chỉ nhận thức được thái độ xả bỏ tâm cố chấp của mình và không có lòng bỏn xẻn như vậy là đủ rồi còn đối tượng thí như thế nào đi nữa thì Ngài cũng không cần để ý thì ở đây mục đích làm phước của vị Bồ Tát chỉ có vậy. Nhưng đối với những người muốn thành tựu được quả phước lớn người đó cúng dường đến các bậc chân tu những bậc thánh nhân sự cúng dường đó quả hữu lậu thật là to lớn.
Sự cúng dường không thanh tịnh ở người cho, không thanh tịnh ở người nhận, đôi khi sự bố thí này quả rất hạn chế.
Trong trường hợp người cho được thanh tịnh như thế nào?
- Trong đoạn kinh Đức Phật Ngài giải thích khi thí chủ có giới thanh tịnh, người có niềm tin trí tuệ, người có chánh tri kiến hiểu biết nhân quả một cách đúng đắn được gọi là thanh tịnh ở người cho.
Thanh tịnh ở người nhận là như thế nào?
Nếu người thọ thí là một vị xuất gia, một vị thánh nhân có thân nghiệp thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh, thành tựu giới nghiệp thanh tịnh có đầy đủ trí tuệ, và nhất là vị đó thành tựu được tri kiến giải thoát thì như vậy được gọi là thanh tịnh ở người nhận.
Tại sao trong cuộc bố thí nếu như có sự thanh tịnh ở người cho và thanh tịnh ở người nhận lại có phước đức vô lượng? Bởi vì trong một thiện sự nào làm bằng tâm tương ương trí - ñāṇaṃ sampayuttā, thiện sự đó sẽ có quả báo lớn lao. Nếu nói theo A Tỳ Đàm sẽ thành tựu 16 loại tâm quả. Và 16 loại tâm quả đó sẽ sản sanh ra những lợi ích lớn lao không thể xiết nổi, không thể đếm được, không thể đo lường được. Trường hợp này chúng ta cũng phải hiểu vì sao Đức Phật Ngài dạy "kammavipāka acinṭeyya - nghiệp quả bất khả tư nghì" là như vậy.
Một người làm phước bằng tâm ly trí, chẳng hạn như có sự tín ngưỡng nhân gian, một tín ngưỡng theo một tôn giáo áp đặt bởi tín điều chỉ biết nhắm mắt tin không cần biết hợp lẽ đạo với luật nhân quả đúng hay sai được lợi ích như thế nào không cần biết, trong trường hợp đó rõ ràng người này làm những hành động không tương ưng với trí tuệ và trong khi làm họ nghĩ họ làm điều thiện làm điều công đức nhưng thật ra đó là điều phi công đức.
Chẳng hạn như trường hợp có những tín ngưỡng bắt buộc tín đồ chỉ phải tin theo không được miễn cưỡng, không được cãi lại và có những điều hết sức phi lý, chẳng hạn như trường hợp giết người giết vật để lấy máu cúng tế thần là một hành động phi lý và phi pháp phi công đức. Quả thật có những tín ngưỡng người ta cho rằng nếu như theo thánh pháp của họ những ai sát hại những người ngoại đạo, giết hại những người không theo đạo của mình giết càng nhiều càng tốt thì sẽ được thần hay thánh giáo chủ của họ ban phước cứu rỗi. Rõ ràng , với niềm tin như vậy và cứ nhắm mắt làm như vậy trong buổi lễ nào cũng tốn kém nhưng sự tốn kém một cách phi lý như vậy không đúng theo đường lối để phát sanh lên thiện quả.
Chúng ta không ngạc nhiên gì khi Đức Phật Ngài tuyên bố người tế tự cả trăm năm, tháng tháng bỏ ra ngàn đồng vàng để làm phước như ông Bàlamôn chú của tôn giả Xá Lợi Phất làm mà không hiểu công việc và không đi đúng mục đích của thiện sự thì chẳng có lợi ích gì.
Một người có niềm tin bằng trí tuệ và hiểu biết được lý nhân quả thấy những chúng sanh khác đang cần sự giúp đỡ cần những vật nhu cầu trong cuộc sống để nuôi mạng v.v... người này với tâm xả kỷ dứt tâm bỏn xẻn họ đem tài vật bố thí. Nếu như họ bố thí bằng niềm tin bằng sự cung kỉnh dẹp bỏ tâm ngạo mạn, và đứng trước đối tượng thí là những vị Thánh nhân, hay là những bậc chân tu, những vị có trí tuệ có giới hạnh thanh tịnh, những bậc đang đi trên con đường hướng đến giải thoát, và tâm của vị thọ thí những vị đó không bị dính mắc trong lợi đắc cung kính, và vị này chỉ thọ dụng vừa phải với hạnh thiểu dục tri túc để sống và thực hành phạm hạnh chớ không có sự đắm nhiễm. Trong trường hợp này chúng ta thấy với cuộc bố thí như vậy càng tăng thiện tâm thêm, sự tăng thêm thiện tâm do đó phước báu được vô lượng.
Một người chỉ có niềm tin và có sự bố thí cúng dường nhưng không có trí tuệ không có tri kiến để hiểu tuy nhiên họ vẫn có sự hoan hỉ có sự cung kính đối với bậc chân tu, trong trường hợp này họ cũng gặt hái được phước báu lớn hơn sự tế tự, bởi vì đối tượng thí lại là phước điền vô thượng, lại là những vị có thể làm thành tựu công đức của thí chủ. Đây cũng là một sự kiện để phát sanh lên phước báu.
Trong cuộc bố thí, người thí chủ là một người thanh tịnh có giới đức trang nghiêm, có niềm tin, có trí tuệ thì người này trong khi làm một thiện sự họ tăng trưởng thiện sự với trí tuệ của mình khéo tác ý dứt lòng bỏn xẻn để dứt trừ phiền não thì cho dù đối tượng thí đó là một đối tượng như thế nào, có tánh hạnh như thế nào, người thí chủ với tâm tốt đẹp như vậy, sự bố thí cúng dường như vậy với thiện tâm cao đẹp như vậy người này cũng gặt hái được quả trong tương lai.
Như vậy trong bốn sự cúng dường đó chúng ta thấy nếu một người bố thí cúng dường được thanh tịnh ở đối tượng bên đây hay phía bên kia, hoặc thanh tịnh cả hai cũng được phước báu, nhưng nếu được thanh tịnh cả hai phía phước báu sẽ tốt đẹp hơn.
Bố thí có hai cách gọi là pùjena dānaṃ là bố thí bằng sự cúng dường bố thí theo cách cúng dường với tâm cúng dường.
Thứ hai gọi là anuggahacittena dānaṃ tức là bố thí với tâm tế độ. Một người Phật tử thanh tịnh về giới có niềm tin có trí tuệ gặp những người nghèo khổ những người ăn xin hay gặp những chúng sanh bất hạnh họ khởi lên lòng bi mẫn và nghĩ rằng những chúng sanh này đang cần sự giúp đỡ của mình người này với tâm xả tài tác ý đến việc đem lại an lạc cho chúng sanh khác và cũng dứt trừ phiền não bỏn xẻn trong nội tâm, người này nghĩ như vậy cho nên người này bố thí thì sự bố thí này phước báu phát sanh tại chỗ là thiện tâm của người này.
Khi một người cúng dường các vị Samôn được thanh tịnh các vị xuất gia được thanh tịnh thì người này sẽ được phước báu từ nơi tâm từ an trú, hay tâm bi an trú, tâm hỉ tâm xả an trú và do chánh tri kiến của người thọ thí khi vị này khởi nên một ước nguyện mong cho thí chủ này được an lạc mong cho thí chủ này được thành tụ hạnh phúc thì với một vị thanh tịnh khi thọ thí của thí chủ vị đó sẽ làm tăng trưởng công đức của thí chủ hiệp theo tâm của người đó có sự hoan hỉ cung kính cúng dường thì như vậy phước báu phát sanh lên.
Vấn đề bố thí cúng dường đến các bậc chân tu những vị đã đoạn trừ một số phiền não hay đoạn trừ tất cả phiền não hoặc những vị đang thực hành chánh pháp, thực hành chân chánh phạm hạnh đưa đến giải thoát thì sự bố thí cúng dường đó sẽ có phước báu hơn sự tế thần lửa hay những tín ngưỡng suông. Trong trường hợp đó chúng ta phải hiểu Đức Thế Tôn thuyết dựa trên cơ sở lý nhân quả chắc thật với trí giác ngộ của mình, Ngài đã hiểu thấu nơi nào thiện pháp sanh khởi nơi đó có quả an vui. Trong sự bố thí cúng dường thiện pháp được tăng trưởng, quả được tăng trưởng bởi vì sự bố thí xả tài có những nguyên nhân để khiến thí chủ được thành tựu tốt đẹp. thành tựu thiết thực quả báu.
Có 3 điều nên biết về việc bố thí:
1. Thứ nhất. Khi người thí chủ bố thí hoặc cúng dường trước nhất tâm người này đã có sự dứt bỏ phiền não, dứt bỏ tâm san lẫn hay tâm bỏn xẻn. Khi dứt bỏ được tâm bỏn xẻn san lẫn không có sự chấp thủ tài sản của mình người này được xem như có thiện pháp sanh khởi.
2. Thứ hai. Trong sự bố thí cúng dường tại sao có quả báu nhiều?
Bởi vì thiết thực ở chỗ nhờ sự bố thí cúng dường này người thọ thí sẽ được 5 điều là:
1. sống còn, 2. được thành tựu thọ mạng, 3. dung sắc an vui, 4. sức mạnh 5. và trí tuệ.
Do vậy, Đức Phật Ngài tuyên bố thí chủ khi làm phước bố thí cúng dường để giúp cho chúng sanh khác được thành tựu 5 điều này cho nên chính bản thân của thí chủ sẽ được quả báu tương ứng thành tựu 5 điều này, trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Thế Tôn đã dạy như thế. Đó là điểm thứ hai khi chúng ta thật sự bố thí cúng dường với tâm thiện sẽ được tăng trưởng quả báu.
3. Thứ ba. Trong sự bố thí cúng dường vì sao được quả tốt? Bởi vì với niềm tin và nếu được thêm một trí tuệ thiết thực hiện tại sống tự lợi và lợi tha đem lại hạnh phúc cho người khác và do đó bản thân của thí chủ được sự hoan hỉ được sự thoả thích nên phát sanh phước
"Nay vui đời sau vui, làm phước hai đời vui, người vui nghĩ rằng ta làm phước sanh thiện thú vui hơn.
Hoặc câu nói khác Đức Phật Ngài dạy: "Làm phước hai đời vui, nó vui nó an vui khi thấy nghiệp tịnh mình làm".
Quả thật như vậy, mỗi khi nghĩ đến việc làm thiện của mình không đem lại đau khổ cho chúng sanh khác chỉ làm lợi ích cho chúng sanh khác thì chính người thí chủ với tâm hoan hỉ như vậy phát sanh được phước báu. Những điều đó cho chúng ta biết tại sao sự bố thí cúng dường với lòng tịnh tín được phước báu hơn cả trăm năm tế tự. Còn trong khi sự tế tự người này bỏ tiền ra để làm cuộc tế tự nhưng trong cuộc tế tự đó tại sao gọi phi công đức là bởi vì người này họ sẽ có những điều có những yếu tố không đem lại phước báu.
Điểm thứ nhất, không phải với niềm tin trí tuệ, không phải với thiện tâm mà chỉ làm với sự tham cầu với tham vọng nào, đó là làm bằng tâm bất thiện.
Điểm thứ hai, trong khi tế tự người này bất chấp thủ đoạn có thể giết hại sinh linh để tế thần, trong trường hợp đó rõ ràng đem lại đau khổ cho chúng sanh khác, một người tầm cầu sự hạnh phúc cho mình nhưng gây đau khổ cho chúng sanh khác, người đó sẽ không bao giờ được hạnh phúc.
Điểm thứ ba, do tà kiến hiểu lầm quấy cho là phải, phải cho là quấy, những cái sai cho là đúng. Trong trường hợp do tà kiến như vậy họ sẽ không thành tựu được công quả lớn lợi ích lớn.
Ở đây, với câu kệ ngôn Đức Phật đã giảng giải trong trường hợp đó chúng ta đừng nghĩ rằng Đức Thế Tôn đã tự tán thán công đức cúng dường cho đệ tử Ngài, cũng như sự cúng dường Ngài để Ngài hưởng lợi lộc hay đệ tử của Ngài hưởng lợi lộc. Không phải như vậy. Trên thực tế Đức Thế Tôn biết rõ đối với vị đệ tử đã giải thoát, một vị thánh đệ tử đã diệt trừ phiền não, thì đối vị thánh đệ tử đó không có lòng tham luyến theo lợi đắc và cung kính. Vì vậy sự thọ dụng của các vị này không làm tổn hại cho thí chủ mà trái lại tăng trưởng cho thí chủ khi thí chủ có lòng tịnh tín đem đến cúng dường, và Ngài thường thí dụ trong trường hợp này một vị Thánh khi thọ dụng của thí chủ đàn na tín thí cũng gìống như một con ong khi hút mật một bông hoa chỉ hút lấy mật vừa đủ không làm hại hương và sắc của bông hoa như thế nào thì ở đây đối với một vị Thánh khi thọ dụng của thí chủ không làm tổn hại vị thí chủ như thế đó. Vì ý nghĩa này Đức Thế Tôn Ngài mới trình bày giảng thuyết câu kệ ngôn trên.
Trong sự tu tập, người Phật tử đừng nghĩ khi chúng ta đến với Phật giáo giống như tín ngưỡng một tôn giáo. Nếu nói theo một cách thông thường, nói theo thiên hạ bàng quan họ cho rằng chúng ta có một sự tín ngưỡng một tôn giáo. Nhưng trên thực tế chúng ta phải biết đạo Phật là một đạo trí tuệ, Đức Phật Ngài không áp đặt ai có niềm tin với Ngài, Ngài không áp đặt tín điều cho những người khác phải tin tưởng lời dạy của Ngài, mà chúng ta đến để thấy Ngài chỉ y thuyết về giáo lý, những ai muốn thấy được chân lý hãy đến và sau khi đến rồi tự người đó hiểu, tự người đó thực hành và thành tựu được những lợi lạc những sự an vui và diệt trừ được phiền não, tự khắc người đó sẽ khởi lên lòng tịnh tín đối với Phật giáo, và nếu như người này chưa hiểu thấu và chưa thành tựu được mục đích cứu cánh phạm hạnh người này muốn bỏ đi thì trong trường hợp đó Đức Phật Ngài cũng không dọa nạt tìm cách kéo níu người đó trở lại và hứa hẹn cho người đó một sự ân sủng ân khải gì cả. Trong trường hợp này chúng ta thấy rõ ràng đối với Phật Giáo là một đạo hết sức thực tiễn và trên cơ sở này chúng ta thấy rõ Đức Phật Ngài thuyết pháp Ngài chỉ trình bày về những chân lý pháp cho nên những ai muốn tìm được chân lý pháp người đó theo đường lối đó thực hành, chỉ vậy thôi.
Thí dụ như sự khổ phát sanh ở đời do nguyên nhân tâm bất thiện trở thành bất thiện nghiệp, bây giờ muốn tránh sự đau khổ chúng ta không cần phải cầu nguyện, không cần phải tế lễ ai cả, tự mình diệt bỏ sự phiền não trong tâm và cố gắng tránh xa điều ác, đừng làm đừng nói và đừng suy nghĩ điều ác, như vậy sẽ không bị hậu quả cay đắng về sau.
Nếu muốn hạnh phúc trên đời, hạnh phúc ở cõi nhân thiên, hay hạnh phúc của hương vị giải thoát khỏi khổ trầm luân sanh tử, điều này cũng không cần sự tế lễ, không cần cầu nguyện xin ai mà chỉ thực hành trưởng dưỡng tâm thiện, vun bồi thiện nghiệp. Chính những thiện nghiệp, chính những tâm thiện sẽ đưa đến quả báu tốt đẹp quả báu an vui, "Hễ trồng dưa thì được dưa, trồng đậu được đậu, chưởng hoa hoàn đắc hoa, chưởng đậu hoàn đắc đậu".
Khi đến với Phật Giáo chúng ta phải nhớ luật nhân quả rõ ràng như xem chỉ tay trong bàn tay vậy, do tự ý mình lựa chọn. Và ở đây tự bản thân mình sẽ quyết định vận mệnh của mình trong tương lai hạnh phúc hay đau khổ, cũng do mình cả, Đức Phật chỉ là một bậc đạo sư chỉ đường dẫn lối Ngài chỉ bày, Đức Thế Tôn Ngài tuyên bố rằng "các đấng Như Lai chỉ là những vị thuyết minh về giáo pháp còn sự nỗ lực đòi hỏi ở chính các ngươi"
Đức Thế Tôn thuyết câu kệ này không phải Đức Phật Ngài muốn đề cao chính bản thân Ngài và cũng không phải Ngài muốn đề cao đệ tử của Ngài. Ngài không bao giờ nói hãy cúng dường cho Như Lai và đệ tử Như Lai sẽ có phước báu còn cúng dường cho người khác không có phước báu, bố thí cho những người khác không có phước báu. Chúng ta đừng nghĩ như vậy.
Mặc dầu trong bài kệ này chúng ta thấy rõ Đức Thế Tôn Ngài thuyết câu kệ ngôn là Ngài thuyết trên phương diện muốn nhấn mạnh tầm quan trọng trong sự bố thí cúng dường đến các bậc giải thoát công đức của người thí chủ được tăng trưởng.
Trong kinh Tương Ưng Đức Phật Ngài dạy:
- "Này Chư Tỳ Kheo, ví dụ như một người đổ nước rửa chén trong đó còn chút ít cặn bã vật thực trên đất với tác ý mong nhờ chút ít cặn bã vật thực này sẽ giúp nuôi mạng các côn trùng. Chỉ suy nghĩ như vậy thôi là có phước. Này Chư Tỳ Kheo, hưống hồ là bố thí cúng dường".
Rõ ràng trong trường hợp đó Đức Phật Ngài đã nhìn nhận bố thí dầu cho đối tượng nào cũng có phước.
Bố thí cho loài súc sanh loài bàng sanh, loài thú cũng có phước. Bố thí cho người dầu cho người đó là người ác cũng có phước hễ khi họ cần. Nhưng quả báu còn thua kém bố thí cho người tu tập có chánh kiến, có giới hạnh. Bố thí cho người tu tập có chánh kiến có giới hạnh còn phàm phu không bằng bố thí cho bậc hữu học. Bố thí cho bậc hữu học cũng không không bằng bố thí cho bậc đã giải thoát là bậc Thánh A La Hán. Bố thí cho bậc Alahán Thinh Văn không bằng bố thí cho vị Alahán Độc Giác. Bố thí cho vị Alahán Độc Giác không bằng bố thí cho vị Toàn Giác. "Nhưng bố thí riêng cá nhân đến vị Toàn Giác, Đức Phật" thì Đức Thế Tôn Ngài khuyên rằng "dù vậy cũng không bằng sự bố thí đến Tăng chúng, vì này Chư Tỳ Kheo bằng mọi phương diện ta không bao giờ nói rằng bố thí cho một cá nhân lại có phước báu nhiều hơn bố thí cho tập thể Tăng chúng".
Đây là những lời Đức Thế Tôn đã thuyết trong bài kinh Dakkhinàvibhanga sutta - kinh Cúng Dường Phân Biệt trong Trung Bộ Kinh
Ở đây chúng ta không có vấn đề gì để thắc mắc hay khó hiểu khi Đức Thế Tôn đã nói như vậy.
Ở đây Đức Phật cho phép chúng ta khi nghe những điều gì bậc Đạo Sư thuyết giảng chúng ta không nên vội tin, không nên vội bỏ, chúng ta nên dùng trí tuệ để suy xét, nếu trong sự bố thí chúng ta trưởng dưỡng được tâm thiện và càng sanh khởi tâm thiện nhiều thì chúng ta biết rõ bố thí là có phước báu. Thí dụ, có những người ở nước ngoài gửi tịnh tài tiền bạc giúp đỡ viện mồ côi hay các công tác từ thiện hoặc giúp đỡ bà con những người nghèo khổ chẳng hạn, trong trường hợp đó vẫn có phước. Thế nhưng người này họ lại có sự hoan hỉ cúng dường tịnh tài cho một vị tu sĩ dầu cho vị tu sĩ đó không thân quen không quyến thuộc nhưng khi biết được công hạnh, công đức, giới đức của vị này và họ gửi về cúng dường thì tự nhiên tâm họ hoan hỉ hơn, tâm của họ thoải mái hơn và sự thoải mái đó làm tăng trưởng tâm thiện nhiều hơn, do đó tự họ khẳng định rằng như vậy trong việc cúng dường này phước báu nhiều hơn bởi vì họ hoàn toàn với tâm xả tài, họ hoàn toàn không phải mang một gánh nặng một trách nhiệm mà họ nghĩ rằng họ cúng dường cho bậc giới đức thì trong trường hợp đó tự họ đã xác định được rằng sự bố thí cúng dường phước báu nhiều hơn là gửi tiền giúp đỡ cho những người nghèo khổ v.v... Trong trường hợp này chúng ta thấy rõ ràng là như vậy.
Cho nên ở đây, đối với đạo Phật khi tu tập trong giáo pháp chúng ta phải biết nếu như chúng ta tin tưởng đạo Phật như một tín ngưỡng nhân gian và chúng ta làm theo những gì Đức Phật chỉ dạy mà chỉ nhắm mắt làm không cần có sự suy nghĩ thì dầu cho chúng ta có được mệnh danh là người Phật tử là một người theo tín ngưỡng đạo Phật nhưng công đức phước báu của chúng ta cũng không thù thắng. Còn khi chúng ta đến với đạo Phật đến bằng chánh tri kiến với trí tuệ hiểu biết rõ ràng rồi chúng ta mới hành động mới tu tập, và trong sự tu tập đó chúng ta đoạn trừ những phiền não đưa đến sự khổ đau trong tương lai thì rõ ràng đây là hành động sáng suốt đưa đến lợi ích thiết thực cho chúng ta ngay trong hiện tại được an lạc và trong tương lai chúng ta cũng được an lạc, và cuối cùng chính con đường thiện sự này sẽ đi đến điểm kết thúc cho chúng ta tức là chấm dứt sanh tử luân hồi.
Chúng tôi đã trình bày xong ý nghĩa của câu kệ ngôn 106 ./.
|
Monday, 1 February 2016
Kệ Ngôn 104-105 Sự Chiến Thắng Đích Thực - TT Giác Đẳng
Kệ Ngôn 104 - 105
Sự Chiến Thắng Ðích Thực
|
Tự thắng mình tốt đẹp
Attaa have jita.m seyyo yaaHơn khuất phục tha nhân Người điều phục tự thân Biết sống bằng tự chế Chư thiên, Càn thát bà Ma vương và Phạm thiên Không thắng bậc trí hiền Ðã tự mình nhiếp hoá Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali caaya.m itaraa pajaa Attadantassa posassa nicca.m sa~n~natacaarino. Neva devo na gandhabbo na maaro saha brahmunaa Jita.m apajita.m kayiraa tathaaruupassa jantuno. Minh Hạnh chuyển biên Duyên Sự
Một Bà La Môn chuyên nghề cờ bạc đến hỏi Ðức Phật về lý lẽ của được và mất. Ðức Thiện Thệ giảng cho ông nghe thế nào là sự thất bại và thắng đạt thật sự trong đời rồi Ngài kết luận bằng 2 kệ ngôn trên.
TT Giác Đẳng: Học hai kệ ngôn này có thể gợi nhắc chúng ta một bài học luân lý rất quen thuộc là con người mình phải có khả năng để tự thắng mình. Tự thắng mình là một cái gì rất vinh quang. Nhưng phải nói hai câu kệ ngôn này đã nói lên một ý hướng hết sức quan trọng ở trong cuộc sống của chúng ta.
Trong bài kinh Đế Thích Sở Vấn hay Sakka-panha Sutta trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật Ngài dạy một người tu tập phải biết nhìn thấu Ngài gọi là tầm. Có những tầm mang lợi lạc cho chúng ta và có nhiều thứ tầm chỉ mang lại phiền não. Tầm ở đây chúng ta nói đến ý hướng, chúng ta nói đến một khuynh hướng cá nhân của mình. Ý hướng này được Đức Phật Ngài dạy ở trong cuộc sống mình có hai mạch sống chính và hai qua mạch sống đó nếu chúng ta hiểu và nếu chúng ta tu tập dựa trên hai mạch sống đó chúng ta sẽ thành tựu nhiều điều vi diệu:
1. Thân Hành. Thân Hành tức là hơi thở, cái gì thuộc về thể chất của chúng ta. Hơi thở có một vai trò đặc biệt hơn chúng ta nghĩ chỉ hít vào và thở ra. Dĩ nhiên, ai cũng biết dưỡng khí cần nhưng hơi thở có một địa vị rất quan trọng, những người thực hành Du-Già cho chúng ta biết chuyện đó.
2. Và Tâm Hành, chúng ta có thể biết rõ khuynh hướng của chúng ta là gì, cảnh giới nào chúng ta đang hướng đến.
Có một lần chúng tôi đến tỉnh Udon của Thái Lan, chúng tôi có hỏi thăm về một số trường hợp cha mẹ bán những đứa con của mình để có tiền, chuyện này hết sức bi đát vì nó có thể làm hỏng cả cuộc đời con của mình. Chúng tôi có hỏi thăm những người tại đó: "Có phải vì ngày hôm nay đời sống dân ở đây quá nghèo nên họ mới làm như vậy phải không?" Một vị Sư ở trong làng nói cho chúng tôi biết: "Không phải vì người ta nghèo mà người ta bán con của mình" Đúng ra ngày xưa cách nay khoản vài ba chục năm cuộc sống tại đó vẫn nghèo hơn hôm nay. Nghèo hơn có nghĩa cuộc sống giản dị hơn, người ta bằng lòng với căn nhà lá với một chiếc nệm. Bây giờ nếu mình có một căn nhà lá một chiếc nệm và thậm trí có một bày gà nuôi ở trong vườn, một miếng đất để canh tác người ta không gọi là khá giả hơn, mà nhà phải có TV phải có xe đạp xe gắn máy rồi nhà phải lợp ngói lợp tôn v.v...
Nói chung, câu chuyện đó cho chúng ta thấy cái giàu cái nghèo cái được và không được đều dựa trên những sự ganh đua, mình có một TV màu cách đây khoản chừng mấy mươi năm thấy điều đó là một điều đặc biệt nhưng ngày hôm nay TV màu rất thường tại vì ai cũng có người ta không thấy điều đó đặc biệt nữa.
Chúng ta đi tìm một chỗ nào đó để nâng cao ngã tính của mình và để làm cho mình thấy mình quan trọng hơn mình đặc biệt hơn. Và chính vì điểm này đã dẫn chúng ta vào cuộc phiêu lưu bất tận ở trong cuộc đời này. Cuộc phiêu lưu đó không bao giờ chúng ta có thể dừng lại được, đã ra đi thì tiếp tục cho đến một ngày chúng ta mỏi mệt. Rất hiếm khi ở trong cuộc đời chúng ta có thể hướng tâm vào một cảnh giới mà cảnh giới đó khả dĩ có thể hóa giải được cái gì rất bản năng của mình.
Chúng tôi nhận thấy ngay cả trong đời sống xuất gia, có một lần chúng tôi nói chuyện với một vị Hoà Thượng, Ngài nói xem vậy chứ đi tu cái lợi dễ bỏ nhưng cái danh thì khó bỏ, có đôi lúc một nhà Sư có thể xả tài rất nhiều có thể cho ra rất nhiều thứ nhưng cái ngã cái danh đôi lúc rất nặng về điểm này.
Phải nói rằng cuộc sống của chúng ta là một cuộc cạnh tranh không ngừng giữa cá nhân này và cá nhân khác, và trong cuộc cạnh tranh đó nếu có cái gì gọi là hơn, cái gì gọi là được thì chúng ta cảm thấy thoả mãn, nhưng chúng ta quên rằng một chút hơn, một chút được đó sẽ đem lại cho chúng ta rất khổ về sau này, tại vì khi chúng ta càng vui với những cái được cái hơn của mình, chúng ta sẽ càng buồn với những cái không được và không hơn của mình.
Cuộc sống này có thể nói như những cây thảo mộc, những hoa đồng cỏ nội, chúng ta không biết thế nào gọi là hơn, thế nào gọi là thua, có những cây rất cao và có những loại thảo mộc chỉ bò ở dưới nhưng lại ra những trái, ví dụ như giàn bầu giàn bí không lớn như cây bàng nhưng bầu bí lại cho chúng ta những trái khác.
Nếu trong một cái nhìn hiểu biết, khách quan, bình tỉnh thì thắng bại ở thế gian này là cái gì rất tương đối như cây ở trong rừng, có những loại cây cho bông hoa, có những loại cây cho lõi, có những loại cây cho vỏ như cây quế, có những loại cây cho rễ như hàn thủ ô, rồi có những loại cây cho chúng ta bóng mát và có những cây chúng ta nghĩ nó vô dụng hoàn toàn nhưng chất xanh trong chất hữu cơ sẽ là một sự bồi đắp cho khu rừng chúng ta không biết được.
Một lần chúng tôi xem cuốn phim nói về loài kiến, loài kiến ăn những côn trùng khác như thế nào và nó giúp cho người ta kiểm soát hoa màu trồng trọt như thế nào. Hồi còn nhỏ khi chúng tôi ở chùa Thiền Quang ở Long Thành và mỗi lần đi gặp đàn kiến như vậy chúng tôi cảm thấy không thích lắm bởi vì những loài kiến này cắn rất đau. Nhưng khi coi bộ phim đó rồi mới thấy bức tranh thiên nhiên hoàn toàn không giống như chúng ta nghĩ mỗi sinh vật và những phần ở trong chu kỳ sinh hóa của con người chúng ta không biết cái nào quan trọng cái nào không quan trọng. Cũng như chúng ta nói về lý Thập Nhị Nhân Duyên có 12 mắc ở trong vòng tròn, hỏi cái nào quan trọng, có người nói vô minh quan trọng, có người nói ái quan trọng, nhưng thật sự trên thực tế thì hễ là một mắc xích thì cái nào cũng quan trọng.
Nên phải có cái nhìn khách quan như thế nào đó chúng ta mới tạm nguôi ngoai đi và nguôi ngoai đi một vài giây phút sống không có so sánh, không dùng sự đối đãi của cuộc sống ở trong đời này để làm thước đo cho chính mình. Đúng ra chúng ta có thể dùng điều đó để tác động tâm tư của mình trong sự hơn vượt trội người khác, trong cái hơn thua, chúng ta tìm thấy ở những giây phút rất hấp dẫn, những giây phút làm cho chúng ta cảm thấy hăng hái yêu đời, nhưng chính cái thất bại não nề mà thường khi chúng ta thất bại rất nhiều nó lại mang cho chúng ta những vết thương lòng sâu đậm hơn bao giờ hết.
Đức Phật Ngài ở đây nói đến khuynh hướng sống. Khuynh hướng sống này rất quan trọng là chúng ta hướng đến nỗ lực chúng ta đặt chỗ nào và nỗ lực này cũng nói lên một điểm Đạo Phật gọi là chánh tinh tấn hay chánh cần. Tức là nỗ lực có tánh cách hướng nội không phải là hướng ngoại, và nỗ lực đó là nỗ lực rất tỉnh táo, nỗ lực đi chung với chánh niệm ,đi chung với trạch pháp để biết chẳng những hướng nội mà nhận rõ cái nào tốt, cái nào xấu. Cái xấu cần phải tiêu diệt và cái tốt cần phải phát triển. Điều này đủ để hiểu cái xấu nào chưa sanh cái xấu nào đã sanh, cái đã sanh làm cho nó diệt rồi làm cho tiêu diệt, và chưa sanh làm sao cho nó được phòng ngừa để không sanh khởi trong tương lai, và thiện pháp nào chưa sanh thì được sanh và thiện pháp nào đã sanh thì làm cho tồn tại.
Như vậy bài kệ này nghe dường như ở bên ngoài là một bài kệ mang tánh cách luân lý đạo đức cổ kim đông tây. Chúng ta nghe rất nhiều câu nói liên quan đến một người có khả năng tự chế lấy chính mình nhưng có lẽ hơn bất cứ tôn giáo nào về điểm này đạo Phật nhấn mạnh rất lớn một người sống có ý thức rõ ràng về thân phận của mình ở giữa cuộc sống này sẽ không có quá bận lòng đối với thước đo ở bên ngoài, người khác họ có thể hơn mình bằng mình và thua mình, nhưng cái hơn, cái bằng, cái thua chỉ là những giá trị chúng ta nhìn thấy ở bên ngoài.
Rất nhiều Phật tử nói với chúng tôi ở cuộc đời này không thể nhìn thấy ở bên ngoài được, có những người đi xe rất mới nhưng họ lại lo âu thường xuyên về vấn đề tiền bạc, có những cặp vợ chồng ở bên ngoài trông họ rất vui vẻ nhưng thật ra ở trong gia đình lại rất lạnh lùng, không có bao nhiêu người thật sự sống hạnh phúc ở trong cuộc đời này. Người ta lại nói đến có những người sống ở bên ngoài dường như tiền bạc rất nhiều, chúng ta nghe những câu chuyện về những nhà tư bản Mỹ lên voi xuống chó là một chuyện rất bình thường, thăng đó rồi trầm đó. Có thể nói cuộc đời của chúng ta nếu đem mình để so sánh với thế giới ở bên ngoài chúng ta không có bao giờ đạt đến đích điểm cuối cùng, chúng ta chỉ được xem như trò chơi hồi còn nhỏ đi đánh đáo hay bắn bi, hơn đó, thua đó, và hơn thua đó nó sẽ trôi vào dĩ vãng, nó trôi vào ký ức, nó trở thành một sự hoài niệm. Ngay lúc đó chúng ta gần như sanh tử và có đôi lúc người ta ăn gian một chút hay bị người khác ăn gian thì nổi cơn thịnh nộ giận dữ nhưng rồi bây giờ nghĩ lại, 5 năm 10 năm sau nghĩ lại thì thời thơ ấu đó chỉ là những trò rất trẻ con mà thôi. Đó là thời thơ ấu, còn bây giờ thì sao, có lẽ là một cái tuổi nào đó trong cuộc đời khi chúng ta có dịp nhìn lại sau này một sự việc mà nó đã trôi qua 5 năm 10 năm rồi thì cái vui, cái buồn, cái phải, cái quấy, cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở, cái được hay không được, cái thắng, cái bại, cái vinh, cái nhục, những giờ phút đó vốn dĩ không có ý nghĩa gì với chúng ta hết và những lúc đó chúng ta bỗng dưng bậc cười tại sao lúc đó mình lại nông nỗi như vậy.
Nên chi, nếu một người có ý thức về sự tự thắng chính mình, tự nhiếp hóa chính mình điều đó có thể nói một sự chuyển hướng hết sức quan trọng trong cuộc đời của họ, bởi vì họ có thể hướng được năng lực thì giờ của họ vào những gì thật sự cao qúi thật sự cần thiết mà không có hoang phí.
Chúng ta sống ở trong một xã hội ảnh hưởng nền luân lý Khổng Mạnh, một xã hội có nhiều ưu điểm nhưng một trong những khuyết điểm lớn nhất là người ta quá trọng về sự hơn thua mặt mũi. Chúng tôi nhớ đọc những câu chuyện thời xa xưa thời tiền chiến những năm 30, 40 có những gia đình vì vấn đề danh dự trong gia đình họ làm một lễ cưới cho con cái mình, sau lễ cưới đó cô dâu và chú rể phải đi làm để trả tiền nợ trong hai mươi năm chỉ trả nợ cho một đám cưới mà đám cưới để rạng rỡ gia tộc mà thôi. Chuyện đó ngày hôm nay chắc chắn càng lúc càng ít đi vì người ta thực tiễn hơn, nhưng không có nghĩa vì thực tiễn của thế giới ngày hôm nay mà người ta có khả năng để hướng năng lực và hướng thì giờ của họ vào việc xây dựng bản thân của mình làm sao cho mình được tốt hơn.
Thiền Sư Upandita nói nếu con người chỉ dùng những năng lực của mình để thắp sáng chánh niệm để có thể hướng dẫn vào đúng chánh tinh tấn của mình mà Đức Phật đã dạy thì thời gian họ sống trong cuộc đời này quả thật họ dùng trọn vẹn, còn nếu họ không dùng được như vậy họ chỉ hướng ngoại thôi thì hầu như họ đã hoang phí hoàn toàn đời sống của họ. Bởi vì cái gì chúng ta cho ra bên ngoài giống như nước đem đổ xuống biển và giống như chúng ta không có cách gì để có thể xây dựng một cái gì thật sự ổn cố ở trên cuộc đời này sau 5, 30 năm sống cuộc đời, nhưng nếu điều đó là một thái độ hướng nội tự xây dựng bản thân mình sẽ thấy không phải bản thân mình lợi lạc mà người khác cũng lợi lạc.
Bài kệ này lại nói lên 2 điều Đức Phật Ngài dạy đi chung với nhau ở bài kệ đầu tiên. Ngài dạy: tự thắng mình mới là chiến thắng chơn thật, mới là chiến thắng vẻ vang hơn là sự chinh phục người khác. Nhưng bên cạnh đó Đức Phật Ngài cũng dạy bậc trí biết tự điều phục mình là bậc trí sống với tinh thần tự chế. Tự chế tức là người đó có khả năng theo trong kinh Phật trong một đoạn Phật ngôn khác trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy: giả xử như một người đang sân mà họ biết kềm lại tâm sân của họ giống như một người đánh xe khéo điều khiển con ngựa đang nộ khí, con ngựa chứng người đánh xe có thể điều khiển được. Hình ảnh một người đánh xe có thể điều khiển được con ngựa chứng hình ảnh đó làm chúng tôi nghĩ là một trong những ví dụ rất đẹp về tinh thần tự chế hay tự thắng chính mình. Bởi vì đối với một bậc thánh đã hoàn toàn giác ngộ giải thoát.
Thì qúi vị Phật tử sẽ thấy bài học về nỗ lực tự chế không phải là bài học lớn đối với các Ngài, bởi vì các Ngài đã thuộc về một cảnh giới khác nhưng đối với chúng ta giống như một xa phu thiện xảo có thể điều phục sân tâm của mình tự giúp hoá lấy chính mình thì điều đó là một kỳ tích, và có những lúc chúng ta cảm thấy rất hạnh phúc vì kỳ tích này ./.
|
Subscribe to:
Posts (Atom)