Kệ Ngôn 106
Tín Ngưỡng và Tín Tâm
|
Cúng bái đến trăm năm Không sánh bằng một phút Cúng dường bậc chân tăng Những thiện hạnh như thế Tế tự nào sánh bằng . Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali yo yajetha sata.m sama.m Eka~nca bhaavitattaana.m muhuttamapi puujaye Saa yeva puujanaa seyyo ya~nce vassasata.m huta.m. Minh Hạnh chuyển biên
TT Trí Siêu:Kinh Pháp Cú kệ ngôn 106 được Đức Thế Tôn thuyết tại Veluvana Trúc Lâm. Duyên khởi Đức Phật thuyết cho người chú của Tôn Giả Xá Lợi Phất, một vị Bàlamôn với tín ngưỡng hàng tháng bỏ ra 1000 đồng vàng để các vị Bàlamôn cúng tế. Tôn Giả Xá Lợi Phất vì bi mẫn muốn tế độ quyến thuộc nên Ngài đã hướng dẫn người chú của mình đến diện kiến Đức Phật và Đức Phật đã thuyết bài kệ ngôn 106
Bài kệ đã được Đức Phật thuyết với ý nghĩa chúng ta sẽ nghe và sẽ thảo luận về vấn đề tín ngưỡng và lòng tịnh tín trong đạo Phật giá trị như thế nào. Trước hết chúng ta hãy bàn qua về ý nghĩa thờ cúng tế tự.
Thưở xưa khi Đức Thế Tôn chưa xuất hiện và sau khi Ngài xuất hiện tại Trung Ấn Độ bấy giờ người dân xứ Ấn Độ theo rất nhiều môn phái và những môn phái đó có một khuynh hướng tín ngưỡng tế tự thờ các vị thần như thờ thần lửa hoặc thờ bò, thờ chó hoặc thờ rắn v.v... Có một số Bàlamôn họ tế tự với mục đích để được sanh về cõi Phạm Thiên. Mặc dù với những tín ngưỡng đó nhưng họ luôn luôn áp đặt niềm tin của tín đồ thực hiện những nghi thức theo như Đức Phật nhận xét đó là những nghi thức thật vô ích, những nghi thức có thể đưa đến sự sát hại sinh linh như giết người, giết vật lấy máu cúng tế, mỗi một lần cúng tế như vậy họ tốn rất nhiều tiền bạc và công sức để làm một buổi lễ. Khi Đức Phật xuất hiện ở đời Ngài thuyết pháp chỉ dạy chúng sanh về cách tế tự có lợi ích hơn.
Kệ ngôn 106, người chú của Tôn Giả Xá Lợi Phất là một vị Bàlamôn sùng đạo Bàlamôn muốn cầu sanh về cõi Phạm Thiên, ông giàu nên ông đã bỏ tiền ra cả ngàn đồng để nhờ các vị Bàlamôn đạo trưởng làm những cuộc lễ tế thần. Đức Thế Tôn đã thuyết lên bài kệ để nói lên giá trị của một người có tâm tịnh tín cúng dường đến các bậc chân tu sự tế tự này sẽ có giá trị hơn và đạt được quả báo cao hơn.
Mới nghe qua chúng ta đừng nghĩ Đức Thế Tôn Ngài muốn tán thán về sự cúng dường đến các vị đệ tử của Ngài và Ngài, không phải như vậy.
Ở đây chúng tôi sẽ phân tách trạng thái tâm của người cúng dường và nói sự cúng dường như thế nào có được quả báu lớn.
Sự bố thí cúng dường, sự bố thí đó là một hình thức, Đức Phật Ngài dùng danh từ yajetha để chỉ cho sự cúng dường, sự bố thí.
Và hutam: là sự hiến cúng, tế tự. Nhưng sự cúng tế này lại mang một giá trị khác, một tác dụng khác.
Theo chánh ngữ hình thức dân gian một người có niềm tin có sự tín ngưỡng theo một đạo nào, một môn phái nào, niềm tin của họ không cần phải xử dụng trí tuệ, không cần phải suy nghĩ đúng hoặc sai họ chỉ biết tin và họ chỉ biết phải làm theo những gì thuộc về tín điều ghi trong kinh điển của họ buộc tín đồ phải tin tưởng và phải cầu nguyện và họ bất chấp sự đau khổ của chúng sanh khác, bất chấp những hành vi tội lỗi đem đến sự bất an cho người khác, chẳng hạn, những con người hoặc những con vật bị làm hi sinh tế lễ, họ không cần biết những chúng sanh này có sự đau khổ hay không và làm như vậy có lợi ích hay không và đối tượng thần linh mà họ cúng tế đó có chứng minh được hay không và có hoan hỉ chấp nhận như vậy hay không, họ không cần biết, họ chỉ biết thánh điển kinh điển của họ dạy như thế nào họ làm như vậy.
Sự tín ngưỡng nhân gian, một tôn giáo hành động mù quáng không có trí tuệ, không có chánh tri kiến , không có đem lại lợi lạc cho chúng sanh, không đem lại lợi ích cho mình chắc chắn điều đó sẽ không có kết quả như mong muốn. Bởi vì những người nào tầm cầu sự an lạc dùng gậy trượng hại người thì người đó sẽ không được sự an lạc do hành vi bất chánh của họ.
Cũng giống như một người muốn lấy dầu thực vật nhưng thực tế họ không biết cách ép dầu thay vì phải dùng đến đậu phụng hoặc mè để ép dầu nhưng họ lại lấy sỏi hay lấy cát ép và họ nghĩ rằng họ sẽ lấy được dầu. Mong muốn là khác, hành vi trái với sự thực trái với lẽ đạo là khác, không đúng theo cách thức trí tuệ thì hành động đó sẽ không bao giờ được thành tựu như ý.
Một người muốn sanh lên cõi Phạm Thiên, cộng trú với Phạm Thiên thì họ phải an trú với pháp môn vô lượng tâm hay bốn pháp phạm trú như Đức Phật đã từng thuyết giảng hoặc các vị Alahán đã từng thuyết giảng cho các vị Balamon. Thì thay vì làm như vậy họ lại nghĩ rằng giết người giết vật sát hại sanh linh để lấy máu tế thần lửa sẽ được sanh về cõi Phạm Thiên đây là một điều chỉ tổn phí công sức và đưa đến sự thiệt hại về tâm lý đạo đức chứ không có lợi ích gì.
Còn ở đây khi Đức Phật Ngài dạy sự tế tự: Nếu một giây phút cúng dường đến một vị đã thật sự giác ngộ như các vị thánh đã đạt đến thánh vức, như những vị thấp nhất những vị đã đạt được quả vị Tư Đà Hoàn, những vị đã đoạn tận ba kiết sử thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, và cao nhất là vị Alahán đã hoàn toàn thanh tịnh tam nghiệp đã được trong sạch, phiền não đã được đoạn trừ với tâm mát lạnh với tâm từ bi vô lượng với giới đức thanh tịnh trang nghiêm quả thật sự cúng dường cho một bậc thánh nhân như thế dầu cho một giây phút cũng hơn cả trăm năm bỏ tiền ra để tế tự.
Tại sao vậy?
Trong Tăng Chi Bộ kinh Đức Phật Ngài có giải thích có bốn sự kiện cúng dường:
1 - Có những cuộc bố thí cúng dường thanh tịnh ở người cho nhưng không thanh tịnh ở người nhận. 2 - Có những cuộc bố thí cúng dường không thanh tịnh ở người cho mà thanh tịnh ở người nhận. 3 - Có nhiều cuộc bố thí cúng dường thanh tịnh ở người cho và thanh tịnh ở người nhận. 4 - Có những cuộc bố thí cúng dường không thanh tịnh ở người cho cũng không thanh tịnh ở người nhận.
Trong bốn sự bố thí này, sự bố thí nào thanh tịnh ở người cho và cũng thanh tịnh ở người nhận phước báu lớn nhất vô lượng công đức.
Sự bố thí cúng dường thanh tịnh ở người cho nhưng không thanh tịnh ở người nhận phước báu chỉ là một sự khiếm khuyết thiên nặng về hạnh tu tập của một vị Bồ Tát. Vị Bồ Tát khi Ngài bố thí cho ai đó lúc bấy giờ Ngài chỉ nhận thức được thái độ xả bỏ tâm cố chấp của mình và không có lòng bỏn xẻn như vậy là đủ rồi còn đối tượng thí như thế nào đi nữa thì Ngài cũng không cần để ý thì ở đây mục đích làm phước của vị Bồ Tát chỉ có vậy. Nhưng đối với những người muốn thành tựu được quả phước lớn người đó cúng dường đến các bậc chân tu những bậc thánh nhân sự cúng dường đó quả hữu lậu thật là to lớn.
Sự cúng dường không thanh tịnh ở người cho, không thanh tịnh ở người nhận, đôi khi sự bố thí này quả rất hạn chế.
Trong trường hợp người cho được thanh tịnh như thế nào?
- Trong đoạn kinh Đức Phật Ngài giải thích khi thí chủ có giới thanh tịnh, người có niềm tin trí tuệ, người có chánh tri kiến hiểu biết nhân quả một cách đúng đắn được gọi là thanh tịnh ở người cho.
Thanh tịnh ở người nhận là như thế nào?
Nếu người thọ thí là một vị xuất gia, một vị thánh nhân có thân nghiệp thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh, thành tựu giới nghiệp thanh tịnh có đầy đủ trí tuệ, và nhất là vị đó thành tựu được tri kiến giải thoát thì như vậy được gọi là thanh tịnh ở người nhận.
Tại sao trong cuộc bố thí nếu như có sự thanh tịnh ở người cho và thanh tịnh ở người nhận lại có phước đức vô lượng? Bởi vì trong một thiện sự nào làm bằng tâm tương ương trí - ñāṇaṃ sampayuttā, thiện sự đó sẽ có quả báo lớn lao. Nếu nói theo A Tỳ Đàm sẽ thành tựu 16 loại tâm quả. Và 16 loại tâm quả đó sẽ sản sanh ra những lợi ích lớn lao không thể xiết nổi, không thể đếm được, không thể đo lường được. Trường hợp này chúng ta cũng phải hiểu vì sao Đức Phật Ngài dạy "kammavipāka acinṭeyya - nghiệp quả bất khả tư nghì" là như vậy.
Một người làm phước bằng tâm ly trí, chẳng hạn như có sự tín ngưỡng nhân gian, một tín ngưỡng theo một tôn giáo áp đặt bởi tín điều chỉ biết nhắm mắt tin không cần biết hợp lẽ đạo với luật nhân quả đúng hay sai được lợi ích như thế nào không cần biết, trong trường hợp đó rõ ràng người này làm những hành động không tương ưng với trí tuệ và trong khi làm họ nghĩ họ làm điều thiện làm điều công đức nhưng thật ra đó là điều phi công đức.
Chẳng hạn như trường hợp có những tín ngưỡng bắt buộc tín đồ chỉ phải tin theo không được miễn cưỡng, không được cãi lại và có những điều hết sức phi lý, chẳng hạn như trường hợp giết người giết vật để lấy máu cúng tế thần là một hành động phi lý và phi pháp phi công đức. Quả thật có những tín ngưỡng người ta cho rằng nếu như theo thánh pháp của họ những ai sát hại những người ngoại đạo, giết hại những người không theo đạo của mình giết càng nhiều càng tốt thì sẽ được thần hay thánh giáo chủ của họ ban phước cứu rỗi. Rõ ràng , với niềm tin như vậy và cứ nhắm mắt làm như vậy trong buổi lễ nào cũng tốn kém nhưng sự tốn kém một cách phi lý như vậy không đúng theo đường lối để phát sanh lên thiện quả.
Chúng ta không ngạc nhiên gì khi Đức Phật Ngài tuyên bố người tế tự cả trăm năm, tháng tháng bỏ ra ngàn đồng vàng để làm phước như ông Bàlamôn chú của tôn giả Xá Lợi Phất làm mà không hiểu công việc và không đi đúng mục đích của thiện sự thì chẳng có lợi ích gì.
Một người có niềm tin bằng trí tuệ và hiểu biết được lý nhân quả thấy những chúng sanh khác đang cần sự giúp đỡ cần những vật nhu cầu trong cuộc sống để nuôi mạng v.v... người này với tâm xả kỷ dứt tâm bỏn xẻn họ đem tài vật bố thí. Nếu như họ bố thí bằng niềm tin bằng sự cung kỉnh dẹp bỏ tâm ngạo mạn, và đứng trước đối tượng thí là những vị Thánh nhân, hay là những bậc chân tu, những vị có trí tuệ có giới hạnh thanh tịnh, những bậc đang đi trên con đường hướng đến giải thoát, và tâm của vị thọ thí những vị đó không bị dính mắc trong lợi đắc cung kính, và vị này chỉ thọ dụng vừa phải với hạnh thiểu dục tri túc để sống và thực hành phạm hạnh chớ không có sự đắm nhiễm. Trong trường hợp này chúng ta thấy với cuộc bố thí như vậy càng tăng thiện tâm thêm, sự tăng thêm thiện tâm do đó phước báu được vô lượng.
Một người chỉ có niềm tin và có sự bố thí cúng dường nhưng không có trí tuệ không có tri kiến để hiểu tuy nhiên họ vẫn có sự hoan hỉ có sự cung kính đối với bậc chân tu, trong trường hợp này họ cũng gặt hái được phước báu lớn hơn sự tế tự, bởi vì đối tượng thí lại là phước điền vô thượng, lại là những vị có thể làm thành tựu công đức của thí chủ. Đây cũng là một sự kiện để phát sanh lên phước báu.
Trong cuộc bố thí, người thí chủ là một người thanh tịnh có giới đức trang nghiêm, có niềm tin, có trí tuệ thì người này trong khi làm một thiện sự họ tăng trưởng thiện sự với trí tuệ của mình khéo tác ý dứt lòng bỏn xẻn để dứt trừ phiền não thì cho dù đối tượng thí đó là một đối tượng như thế nào, có tánh hạnh như thế nào, người thí chủ với tâm tốt đẹp như vậy, sự bố thí cúng dường như vậy với thiện tâm cao đẹp như vậy người này cũng gặt hái được quả trong tương lai.
Như vậy trong bốn sự cúng dường đó chúng ta thấy nếu một người bố thí cúng dường được thanh tịnh ở đối tượng bên đây hay phía bên kia, hoặc thanh tịnh cả hai cũng được phước báu, nhưng nếu được thanh tịnh cả hai phía phước báu sẽ tốt đẹp hơn.
Bố thí có hai cách gọi là pùjena dānaṃ là bố thí bằng sự cúng dường bố thí theo cách cúng dường với tâm cúng dường.
Thứ hai gọi là anuggahacittena dānaṃ tức là bố thí với tâm tế độ. Một người Phật tử thanh tịnh về giới có niềm tin có trí tuệ gặp những người nghèo khổ những người ăn xin hay gặp những chúng sanh bất hạnh họ khởi lên lòng bi mẫn và nghĩ rằng những chúng sanh này đang cần sự giúp đỡ của mình người này với tâm xả tài tác ý đến việc đem lại an lạc cho chúng sanh khác và cũng dứt trừ phiền não bỏn xẻn trong nội tâm, người này nghĩ như vậy cho nên người này bố thí thì sự bố thí này phước báu phát sanh tại chỗ là thiện tâm của người này.
Khi một người cúng dường các vị Samôn được thanh tịnh các vị xuất gia được thanh tịnh thì người này sẽ được phước báu từ nơi tâm từ an trú, hay tâm bi an trú, tâm hỉ tâm xả an trú và do chánh tri kiến của người thọ thí khi vị này khởi nên một ước nguyện mong cho thí chủ này được an lạc mong cho thí chủ này được thành tụ hạnh phúc thì với một vị thanh tịnh khi thọ thí của thí chủ vị đó sẽ làm tăng trưởng công đức của thí chủ hiệp theo tâm của người đó có sự hoan hỉ cung kính cúng dường thì như vậy phước báu phát sanh lên.
Vấn đề bố thí cúng dường đến các bậc chân tu những vị đã đoạn trừ một số phiền não hay đoạn trừ tất cả phiền não hoặc những vị đang thực hành chánh pháp, thực hành chân chánh phạm hạnh đưa đến giải thoát thì sự bố thí cúng dường đó sẽ có phước báu hơn sự tế thần lửa hay những tín ngưỡng suông. Trong trường hợp đó chúng ta phải hiểu Đức Thế Tôn thuyết dựa trên cơ sở lý nhân quả chắc thật với trí giác ngộ của mình, Ngài đã hiểu thấu nơi nào thiện pháp sanh khởi nơi đó có quả an vui. Trong sự bố thí cúng dường thiện pháp được tăng trưởng, quả được tăng trưởng bởi vì sự bố thí xả tài có những nguyên nhân để khiến thí chủ được thành tựu tốt đẹp. thành tựu thiết thực quả báu.
Có 3 điều nên biết về việc bố thí:
1. Thứ nhất. Khi người thí chủ bố thí hoặc cúng dường trước nhất tâm người này đã có sự dứt bỏ phiền não, dứt bỏ tâm san lẫn hay tâm bỏn xẻn. Khi dứt bỏ được tâm bỏn xẻn san lẫn không có sự chấp thủ tài sản của mình người này được xem như có thiện pháp sanh khởi.
2. Thứ hai. Trong sự bố thí cúng dường tại sao có quả báu nhiều?
Bởi vì thiết thực ở chỗ nhờ sự bố thí cúng dường này người thọ thí sẽ được 5 điều là:
1. sống còn, 2. được thành tựu thọ mạng, 3. dung sắc an vui, 4. sức mạnh 5. và trí tuệ.
Do vậy, Đức Phật Ngài tuyên bố thí chủ khi làm phước bố thí cúng dường để giúp cho chúng sanh khác được thành tựu 5 điều này cho nên chính bản thân của thí chủ sẽ được quả báu tương ứng thành tựu 5 điều này, trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Thế Tôn đã dạy như thế. Đó là điểm thứ hai khi chúng ta thật sự bố thí cúng dường với tâm thiện sẽ được tăng trưởng quả báu.
3. Thứ ba. Trong sự bố thí cúng dường vì sao được quả tốt? Bởi vì với niềm tin và nếu được thêm một trí tuệ thiết thực hiện tại sống tự lợi và lợi tha đem lại hạnh phúc cho người khác và do đó bản thân của thí chủ được sự hoan hỉ được sự thoả thích nên phát sanh phước
"Nay vui đời sau vui, làm phước hai đời vui, người vui nghĩ rằng ta làm phước sanh thiện thú vui hơn.
Hoặc câu nói khác Đức Phật Ngài dạy: "Làm phước hai đời vui, nó vui nó an vui khi thấy nghiệp tịnh mình làm".
Quả thật như vậy, mỗi khi nghĩ đến việc làm thiện của mình không đem lại đau khổ cho chúng sanh khác chỉ làm lợi ích cho chúng sanh khác thì chính người thí chủ với tâm hoan hỉ như vậy phát sanh được phước báu. Những điều đó cho chúng ta biết tại sao sự bố thí cúng dường với lòng tịnh tín được phước báu hơn cả trăm năm tế tự. Còn trong khi sự tế tự người này bỏ tiền ra để làm cuộc tế tự nhưng trong cuộc tế tự đó tại sao gọi phi công đức là bởi vì người này họ sẽ có những điều có những yếu tố không đem lại phước báu.
Điểm thứ nhất, không phải với niềm tin trí tuệ, không phải với thiện tâm mà chỉ làm với sự tham cầu với tham vọng nào, đó là làm bằng tâm bất thiện.
Điểm thứ hai, trong khi tế tự người này bất chấp thủ đoạn có thể giết hại sinh linh để tế thần, trong trường hợp đó rõ ràng đem lại đau khổ cho chúng sanh khác, một người tầm cầu sự hạnh phúc cho mình nhưng gây đau khổ cho chúng sanh khác, người đó sẽ không bao giờ được hạnh phúc.
Điểm thứ ba, do tà kiến hiểu lầm quấy cho là phải, phải cho là quấy, những cái sai cho là đúng. Trong trường hợp do tà kiến như vậy họ sẽ không thành tựu được công quả lớn lợi ích lớn.
Ở đây, với câu kệ ngôn Đức Phật đã giảng giải trong trường hợp đó chúng ta đừng nghĩ rằng Đức Thế Tôn đã tự tán thán công đức cúng dường cho đệ tử Ngài, cũng như sự cúng dường Ngài để Ngài hưởng lợi lộc hay đệ tử của Ngài hưởng lợi lộc. Không phải như vậy. Trên thực tế Đức Thế Tôn biết rõ đối với vị đệ tử đã giải thoát, một vị thánh đệ tử đã diệt trừ phiền não, thì đối vị thánh đệ tử đó không có lòng tham luyến theo lợi đắc và cung kính. Vì vậy sự thọ dụng của các vị này không làm tổn hại cho thí chủ mà trái lại tăng trưởng cho thí chủ khi thí chủ có lòng tịnh tín đem đến cúng dường, và Ngài thường thí dụ trong trường hợp này một vị Thánh khi thọ dụng của thí chủ đàn na tín thí cũng gìống như một con ong khi hút mật một bông hoa chỉ hút lấy mật vừa đủ không làm hại hương và sắc của bông hoa như thế nào thì ở đây đối với một vị Thánh khi thọ dụng của thí chủ không làm tổn hại vị thí chủ như thế đó. Vì ý nghĩa này Đức Thế Tôn Ngài mới trình bày giảng thuyết câu kệ ngôn trên.
Trong sự tu tập, người Phật tử đừng nghĩ khi chúng ta đến với Phật giáo giống như tín ngưỡng một tôn giáo. Nếu nói theo một cách thông thường, nói theo thiên hạ bàng quan họ cho rằng chúng ta có một sự tín ngưỡng một tôn giáo. Nhưng trên thực tế chúng ta phải biết đạo Phật là một đạo trí tuệ, Đức Phật Ngài không áp đặt ai có niềm tin với Ngài, Ngài không áp đặt tín điều cho những người khác phải tin tưởng lời dạy của Ngài, mà chúng ta đến để thấy Ngài chỉ y thuyết về giáo lý, những ai muốn thấy được chân lý hãy đến và sau khi đến rồi tự người đó hiểu, tự người đó thực hành và thành tựu được những lợi lạc những sự an vui và diệt trừ được phiền não, tự khắc người đó sẽ khởi lên lòng tịnh tín đối với Phật giáo, và nếu như người này chưa hiểu thấu và chưa thành tựu được mục đích cứu cánh phạm hạnh người này muốn bỏ đi thì trong trường hợp đó Đức Phật Ngài cũng không dọa nạt tìm cách kéo níu người đó trở lại và hứa hẹn cho người đó một sự ân sủng ân khải gì cả. Trong trường hợp này chúng ta thấy rõ ràng đối với Phật Giáo là một đạo hết sức thực tiễn và trên cơ sở này chúng ta thấy rõ Đức Phật Ngài thuyết pháp Ngài chỉ trình bày về những chân lý pháp cho nên những ai muốn tìm được chân lý pháp người đó theo đường lối đó thực hành, chỉ vậy thôi.
Thí dụ như sự khổ phát sanh ở đời do nguyên nhân tâm bất thiện trở thành bất thiện nghiệp, bây giờ muốn tránh sự đau khổ chúng ta không cần phải cầu nguyện, không cần phải tế lễ ai cả, tự mình diệt bỏ sự phiền não trong tâm và cố gắng tránh xa điều ác, đừng làm đừng nói và đừng suy nghĩ điều ác, như vậy sẽ không bị hậu quả cay đắng về sau.
Nếu muốn hạnh phúc trên đời, hạnh phúc ở cõi nhân thiên, hay hạnh phúc của hương vị giải thoát khỏi khổ trầm luân sanh tử, điều này cũng không cần sự tế lễ, không cần cầu nguyện xin ai mà chỉ thực hành trưởng dưỡng tâm thiện, vun bồi thiện nghiệp. Chính những thiện nghiệp, chính những tâm thiện sẽ đưa đến quả báu tốt đẹp quả báu an vui, "Hễ trồng dưa thì được dưa, trồng đậu được đậu, chưởng hoa hoàn đắc hoa, chưởng đậu hoàn đắc đậu".
Khi đến với Phật Giáo chúng ta phải nhớ luật nhân quả rõ ràng như xem chỉ tay trong bàn tay vậy, do tự ý mình lựa chọn. Và ở đây tự bản thân mình sẽ quyết định vận mệnh của mình trong tương lai hạnh phúc hay đau khổ, cũng do mình cả, Đức Phật chỉ là một bậc đạo sư chỉ đường dẫn lối Ngài chỉ bày, Đức Thế Tôn Ngài tuyên bố rằng "các đấng Như Lai chỉ là những vị thuyết minh về giáo pháp còn sự nỗ lực đòi hỏi ở chính các ngươi"
Đức Thế Tôn thuyết câu kệ này không phải Đức Phật Ngài muốn đề cao chính bản thân Ngài và cũng không phải Ngài muốn đề cao đệ tử của Ngài. Ngài không bao giờ nói hãy cúng dường cho Như Lai và đệ tử Như Lai sẽ có phước báu còn cúng dường cho người khác không có phước báu, bố thí cho những người khác không có phước báu. Chúng ta đừng nghĩ như vậy.
Mặc dầu trong bài kệ này chúng ta thấy rõ Đức Thế Tôn Ngài thuyết câu kệ ngôn là Ngài thuyết trên phương diện muốn nhấn mạnh tầm quan trọng trong sự bố thí cúng dường đến các bậc giải thoát công đức của người thí chủ được tăng trưởng.
Trong kinh Tương Ưng Đức Phật Ngài dạy:
- "Này Chư Tỳ Kheo, ví dụ như một người đổ nước rửa chén trong đó còn chút ít cặn bã vật thực trên đất với tác ý mong nhờ chút ít cặn bã vật thực này sẽ giúp nuôi mạng các côn trùng. Chỉ suy nghĩ như vậy thôi là có phước. Này Chư Tỳ Kheo, hưống hồ là bố thí cúng dường".
Rõ ràng trong trường hợp đó Đức Phật Ngài đã nhìn nhận bố thí dầu cho đối tượng nào cũng có phước.
Bố thí cho loài súc sanh loài bàng sanh, loài thú cũng có phước. Bố thí cho người dầu cho người đó là người ác cũng có phước hễ khi họ cần. Nhưng quả báu còn thua kém bố thí cho người tu tập có chánh kiến, có giới hạnh. Bố thí cho người tu tập có chánh kiến có giới hạnh còn phàm phu không bằng bố thí cho bậc hữu học. Bố thí cho bậc hữu học cũng không không bằng bố thí cho bậc đã giải thoát là bậc Thánh A La Hán. Bố thí cho bậc Alahán Thinh Văn không bằng bố thí cho vị Alahán Độc Giác. Bố thí cho vị Alahán Độc Giác không bằng bố thí cho vị Toàn Giác. "Nhưng bố thí riêng cá nhân đến vị Toàn Giác, Đức Phật" thì Đức Thế Tôn Ngài khuyên rằng "dù vậy cũng không bằng sự bố thí đến Tăng chúng, vì này Chư Tỳ Kheo bằng mọi phương diện ta không bao giờ nói rằng bố thí cho một cá nhân lại có phước báu nhiều hơn bố thí cho tập thể Tăng chúng".
Đây là những lời Đức Thế Tôn đã thuyết trong bài kinh Dakkhinàvibhanga sutta - kinh Cúng Dường Phân Biệt trong Trung Bộ Kinh
Ở đây chúng ta không có vấn đề gì để thắc mắc hay khó hiểu khi Đức Thế Tôn đã nói như vậy.
Ở đây Đức Phật cho phép chúng ta khi nghe những điều gì bậc Đạo Sư thuyết giảng chúng ta không nên vội tin, không nên vội bỏ, chúng ta nên dùng trí tuệ để suy xét, nếu trong sự bố thí chúng ta trưởng dưỡng được tâm thiện và càng sanh khởi tâm thiện nhiều thì chúng ta biết rõ bố thí là có phước báu. Thí dụ, có những người ở nước ngoài gửi tịnh tài tiền bạc giúp đỡ viện mồ côi hay các công tác từ thiện hoặc giúp đỡ bà con những người nghèo khổ chẳng hạn, trong trường hợp đó vẫn có phước. Thế nhưng người này họ lại có sự hoan hỉ cúng dường tịnh tài cho một vị tu sĩ dầu cho vị tu sĩ đó không thân quen không quyến thuộc nhưng khi biết được công hạnh, công đức, giới đức của vị này và họ gửi về cúng dường thì tự nhiên tâm họ hoan hỉ hơn, tâm của họ thoải mái hơn và sự thoải mái đó làm tăng trưởng tâm thiện nhiều hơn, do đó tự họ khẳng định rằng như vậy trong việc cúng dường này phước báu nhiều hơn bởi vì họ hoàn toàn với tâm xả tài, họ hoàn toàn không phải mang một gánh nặng một trách nhiệm mà họ nghĩ rằng họ cúng dường cho bậc giới đức thì trong trường hợp đó tự họ đã xác định được rằng sự bố thí cúng dường phước báu nhiều hơn là gửi tiền giúp đỡ cho những người nghèo khổ v.v... Trong trường hợp này chúng ta thấy rõ ràng là như vậy.
Cho nên ở đây, đối với đạo Phật khi tu tập trong giáo pháp chúng ta phải biết nếu như chúng ta tin tưởng đạo Phật như một tín ngưỡng nhân gian và chúng ta làm theo những gì Đức Phật chỉ dạy mà chỉ nhắm mắt làm không cần có sự suy nghĩ thì dầu cho chúng ta có được mệnh danh là người Phật tử là một người theo tín ngưỡng đạo Phật nhưng công đức phước báu của chúng ta cũng không thù thắng. Còn khi chúng ta đến với đạo Phật đến bằng chánh tri kiến với trí tuệ hiểu biết rõ ràng rồi chúng ta mới hành động mới tu tập, và trong sự tu tập đó chúng ta đoạn trừ những phiền não đưa đến sự khổ đau trong tương lai thì rõ ràng đây là hành động sáng suốt đưa đến lợi ích thiết thực cho chúng ta ngay trong hiện tại được an lạc và trong tương lai chúng ta cũng được an lạc, và cuối cùng chính con đường thiện sự này sẽ đi đến điểm kết thúc cho chúng ta tức là chấm dứt sanh tử luân hồi.
Chúng tôi đã trình bày xong ý nghĩa của câu kệ ngôn 106 ./.
|
Monday, 22 February 2016
Kệ Ngôn 106 - Tín Ngưỡng và Tín Tâm - TT Trí Siêu
Monday, 1 February 2016
Kệ Ngôn 104-105 Sự Chiến Thắng Đích Thực - TT Giác Đẳng
Kệ Ngôn 104 - 105
Sự Chiến Thắng Ðích Thực
|
Tự thắng mình tốt đẹp
Attaa have jita.m seyyo yaaHơn khuất phục tha nhân Người điều phục tự thân Biết sống bằng tự chế Chư thiên, Càn thát bà Ma vương và Phạm thiên Không thắng bậc trí hiền Ðã tự mình nhiếp hoá Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali caaya.m itaraa pajaa Attadantassa posassa nicca.m sa~n~natacaarino. Neva devo na gandhabbo na maaro saha brahmunaa Jita.m apajita.m kayiraa tathaaruupassa jantuno. Minh Hạnh chuyển biên Duyên Sự
Một Bà La Môn chuyên nghề cờ bạc đến hỏi Ðức Phật về lý lẽ của được và mất. Ðức Thiện Thệ giảng cho ông nghe thế nào là sự thất bại và thắng đạt thật sự trong đời rồi Ngài kết luận bằng 2 kệ ngôn trên.
TT Giác Đẳng: Học hai kệ ngôn này có thể gợi nhắc chúng ta một bài học luân lý rất quen thuộc là con người mình phải có khả năng để tự thắng mình. Tự thắng mình là một cái gì rất vinh quang. Nhưng phải nói hai câu kệ ngôn này đã nói lên một ý hướng hết sức quan trọng ở trong cuộc sống của chúng ta.
Trong bài kinh Đế Thích Sở Vấn hay Sakka-panha Sutta trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật Ngài dạy một người tu tập phải biết nhìn thấu Ngài gọi là tầm. Có những tầm mang lợi lạc cho chúng ta và có nhiều thứ tầm chỉ mang lại phiền não. Tầm ở đây chúng ta nói đến ý hướng, chúng ta nói đến một khuynh hướng cá nhân của mình. Ý hướng này được Đức Phật Ngài dạy ở trong cuộc sống mình có hai mạch sống chính và hai qua mạch sống đó nếu chúng ta hiểu và nếu chúng ta tu tập dựa trên hai mạch sống đó chúng ta sẽ thành tựu nhiều điều vi diệu:
1. Thân Hành. Thân Hành tức là hơi thở, cái gì thuộc về thể chất của chúng ta. Hơi thở có một vai trò đặc biệt hơn chúng ta nghĩ chỉ hít vào và thở ra. Dĩ nhiên, ai cũng biết dưỡng khí cần nhưng hơi thở có một địa vị rất quan trọng, những người thực hành Du-Già cho chúng ta biết chuyện đó.
2. Và Tâm Hành, chúng ta có thể biết rõ khuynh hướng của chúng ta là gì, cảnh giới nào chúng ta đang hướng đến.
Có một lần chúng tôi đến tỉnh Udon của Thái Lan, chúng tôi có hỏi thăm về một số trường hợp cha mẹ bán những đứa con của mình để có tiền, chuyện này hết sức bi đát vì nó có thể làm hỏng cả cuộc đời con của mình. Chúng tôi có hỏi thăm những người tại đó: "Có phải vì ngày hôm nay đời sống dân ở đây quá nghèo nên họ mới làm như vậy phải không?" Một vị Sư ở trong làng nói cho chúng tôi biết: "Không phải vì người ta nghèo mà người ta bán con của mình" Đúng ra ngày xưa cách nay khoản vài ba chục năm cuộc sống tại đó vẫn nghèo hơn hôm nay. Nghèo hơn có nghĩa cuộc sống giản dị hơn, người ta bằng lòng với căn nhà lá với một chiếc nệm. Bây giờ nếu mình có một căn nhà lá một chiếc nệm và thậm trí có một bày gà nuôi ở trong vườn, một miếng đất để canh tác người ta không gọi là khá giả hơn, mà nhà phải có TV phải có xe đạp xe gắn máy rồi nhà phải lợp ngói lợp tôn v.v...
Nói chung, câu chuyện đó cho chúng ta thấy cái giàu cái nghèo cái được và không được đều dựa trên những sự ganh đua, mình có một TV màu cách đây khoản chừng mấy mươi năm thấy điều đó là một điều đặc biệt nhưng ngày hôm nay TV màu rất thường tại vì ai cũng có người ta không thấy điều đó đặc biệt nữa.
Chúng ta đi tìm một chỗ nào đó để nâng cao ngã tính của mình và để làm cho mình thấy mình quan trọng hơn mình đặc biệt hơn. Và chính vì điểm này đã dẫn chúng ta vào cuộc phiêu lưu bất tận ở trong cuộc đời này. Cuộc phiêu lưu đó không bao giờ chúng ta có thể dừng lại được, đã ra đi thì tiếp tục cho đến một ngày chúng ta mỏi mệt. Rất hiếm khi ở trong cuộc đời chúng ta có thể hướng tâm vào một cảnh giới mà cảnh giới đó khả dĩ có thể hóa giải được cái gì rất bản năng của mình.
Chúng tôi nhận thấy ngay cả trong đời sống xuất gia, có một lần chúng tôi nói chuyện với một vị Hoà Thượng, Ngài nói xem vậy chứ đi tu cái lợi dễ bỏ nhưng cái danh thì khó bỏ, có đôi lúc một nhà Sư có thể xả tài rất nhiều có thể cho ra rất nhiều thứ nhưng cái ngã cái danh đôi lúc rất nặng về điểm này.
Phải nói rằng cuộc sống của chúng ta là một cuộc cạnh tranh không ngừng giữa cá nhân này và cá nhân khác, và trong cuộc cạnh tranh đó nếu có cái gì gọi là hơn, cái gì gọi là được thì chúng ta cảm thấy thoả mãn, nhưng chúng ta quên rằng một chút hơn, một chút được đó sẽ đem lại cho chúng ta rất khổ về sau này, tại vì khi chúng ta càng vui với những cái được cái hơn của mình, chúng ta sẽ càng buồn với những cái không được và không hơn của mình.
Cuộc sống này có thể nói như những cây thảo mộc, những hoa đồng cỏ nội, chúng ta không biết thế nào gọi là hơn, thế nào gọi là thua, có những cây rất cao và có những loại thảo mộc chỉ bò ở dưới nhưng lại ra những trái, ví dụ như giàn bầu giàn bí không lớn như cây bàng nhưng bầu bí lại cho chúng ta những trái khác.
Nếu trong một cái nhìn hiểu biết, khách quan, bình tỉnh thì thắng bại ở thế gian này là cái gì rất tương đối như cây ở trong rừng, có những loại cây cho bông hoa, có những loại cây cho lõi, có những loại cây cho vỏ như cây quế, có những loại cây cho rễ như hàn thủ ô, rồi có những loại cây cho chúng ta bóng mát và có những cây chúng ta nghĩ nó vô dụng hoàn toàn nhưng chất xanh trong chất hữu cơ sẽ là một sự bồi đắp cho khu rừng chúng ta không biết được.
Một lần chúng tôi xem cuốn phim nói về loài kiến, loài kiến ăn những côn trùng khác như thế nào và nó giúp cho người ta kiểm soát hoa màu trồng trọt như thế nào. Hồi còn nhỏ khi chúng tôi ở chùa Thiền Quang ở Long Thành và mỗi lần đi gặp đàn kiến như vậy chúng tôi cảm thấy không thích lắm bởi vì những loài kiến này cắn rất đau. Nhưng khi coi bộ phim đó rồi mới thấy bức tranh thiên nhiên hoàn toàn không giống như chúng ta nghĩ mỗi sinh vật và những phần ở trong chu kỳ sinh hóa của con người chúng ta không biết cái nào quan trọng cái nào không quan trọng. Cũng như chúng ta nói về lý Thập Nhị Nhân Duyên có 12 mắc ở trong vòng tròn, hỏi cái nào quan trọng, có người nói vô minh quan trọng, có người nói ái quan trọng, nhưng thật sự trên thực tế thì hễ là một mắc xích thì cái nào cũng quan trọng.
Nên phải có cái nhìn khách quan như thế nào đó chúng ta mới tạm nguôi ngoai đi và nguôi ngoai đi một vài giây phút sống không có so sánh, không dùng sự đối đãi của cuộc sống ở trong đời này để làm thước đo cho chính mình. Đúng ra chúng ta có thể dùng điều đó để tác động tâm tư của mình trong sự hơn vượt trội người khác, trong cái hơn thua, chúng ta tìm thấy ở những giây phút rất hấp dẫn, những giây phút làm cho chúng ta cảm thấy hăng hái yêu đời, nhưng chính cái thất bại não nề mà thường khi chúng ta thất bại rất nhiều nó lại mang cho chúng ta những vết thương lòng sâu đậm hơn bao giờ hết.
Đức Phật Ngài ở đây nói đến khuynh hướng sống. Khuynh hướng sống này rất quan trọng là chúng ta hướng đến nỗ lực chúng ta đặt chỗ nào và nỗ lực này cũng nói lên một điểm Đạo Phật gọi là chánh tinh tấn hay chánh cần. Tức là nỗ lực có tánh cách hướng nội không phải là hướng ngoại, và nỗ lực đó là nỗ lực rất tỉnh táo, nỗ lực đi chung với chánh niệm ,đi chung với trạch pháp để biết chẳng những hướng nội mà nhận rõ cái nào tốt, cái nào xấu. Cái xấu cần phải tiêu diệt và cái tốt cần phải phát triển. Điều này đủ để hiểu cái xấu nào chưa sanh cái xấu nào đã sanh, cái đã sanh làm cho nó diệt rồi làm cho tiêu diệt, và chưa sanh làm sao cho nó được phòng ngừa để không sanh khởi trong tương lai, và thiện pháp nào chưa sanh thì được sanh và thiện pháp nào đã sanh thì làm cho tồn tại.
Như vậy bài kệ này nghe dường như ở bên ngoài là một bài kệ mang tánh cách luân lý đạo đức cổ kim đông tây. Chúng ta nghe rất nhiều câu nói liên quan đến một người có khả năng tự chế lấy chính mình nhưng có lẽ hơn bất cứ tôn giáo nào về điểm này đạo Phật nhấn mạnh rất lớn một người sống có ý thức rõ ràng về thân phận của mình ở giữa cuộc sống này sẽ không có quá bận lòng đối với thước đo ở bên ngoài, người khác họ có thể hơn mình bằng mình và thua mình, nhưng cái hơn, cái bằng, cái thua chỉ là những giá trị chúng ta nhìn thấy ở bên ngoài.
Rất nhiều Phật tử nói với chúng tôi ở cuộc đời này không thể nhìn thấy ở bên ngoài được, có những người đi xe rất mới nhưng họ lại lo âu thường xuyên về vấn đề tiền bạc, có những cặp vợ chồng ở bên ngoài trông họ rất vui vẻ nhưng thật ra ở trong gia đình lại rất lạnh lùng, không có bao nhiêu người thật sự sống hạnh phúc ở trong cuộc đời này. Người ta lại nói đến có những người sống ở bên ngoài dường như tiền bạc rất nhiều, chúng ta nghe những câu chuyện về những nhà tư bản Mỹ lên voi xuống chó là một chuyện rất bình thường, thăng đó rồi trầm đó. Có thể nói cuộc đời của chúng ta nếu đem mình để so sánh với thế giới ở bên ngoài chúng ta không có bao giờ đạt đến đích điểm cuối cùng, chúng ta chỉ được xem như trò chơi hồi còn nhỏ đi đánh đáo hay bắn bi, hơn đó, thua đó, và hơn thua đó nó sẽ trôi vào dĩ vãng, nó trôi vào ký ức, nó trở thành một sự hoài niệm. Ngay lúc đó chúng ta gần như sanh tử và có đôi lúc người ta ăn gian một chút hay bị người khác ăn gian thì nổi cơn thịnh nộ giận dữ nhưng rồi bây giờ nghĩ lại, 5 năm 10 năm sau nghĩ lại thì thời thơ ấu đó chỉ là những trò rất trẻ con mà thôi. Đó là thời thơ ấu, còn bây giờ thì sao, có lẽ là một cái tuổi nào đó trong cuộc đời khi chúng ta có dịp nhìn lại sau này một sự việc mà nó đã trôi qua 5 năm 10 năm rồi thì cái vui, cái buồn, cái phải, cái quấy, cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở, cái được hay không được, cái thắng, cái bại, cái vinh, cái nhục, những giờ phút đó vốn dĩ không có ý nghĩa gì với chúng ta hết và những lúc đó chúng ta bỗng dưng bậc cười tại sao lúc đó mình lại nông nỗi như vậy.
Nên chi, nếu một người có ý thức về sự tự thắng chính mình, tự nhiếp hóa chính mình điều đó có thể nói một sự chuyển hướng hết sức quan trọng trong cuộc đời của họ, bởi vì họ có thể hướng được năng lực thì giờ của họ vào những gì thật sự cao qúi thật sự cần thiết mà không có hoang phí.
Chúng ta sống ở trong một xã hội ảnh hưởng nền luân lý Khổng Mạnh, một xã hội có nhiều ưu điểm nhưng một trong những khuyết điểm lớn nhất là người ta quá trọng về sự hơn thua mặt mũi. Chúng tôi nhớ đọc những câu chuyện thời xa xưa thời tiền chiến những năm 30, 40 có những gia đình vì vấn đề danh dự trong gia đình họ làm một lễ cưới cho con cái mình, sau lễ cưới đó cô dâu và chú rể phải đi làm để trả tiền nợ trong hai mươi năm chỉ trả nợ cho một đám cưới mà đám cưới để rạng rỡ gia tộc mà thôi. Chuyện đó ngày hôm nay chắc chắn càng lúc càng ít đi vì người ta thực tiễn hơn, nhưng không có nghĩa vì thực tiễn của thế giới ngày hôm nay mà người ta có khả năng để hướng năng lực và hướng thì giờ của họ vào việc xây dựng bản thân của mình làm sao cho mình được tốt hơn.
Thiền Sư Upandita nói nếu con người chỉ dùng những năng lực của mình để thắp sáng chánh niệm để có thể hướng dẫn vào đúng chánh tinh tấn của mình mà Đức Phật đã dạy thì thời gian họ sống trong cuộc đời này quả thật họ dùng trọn vẹn, còn nếu họ không dùng được như vậy họ chỉ hướng ngoại thôi thì hầu như họ đã hoang phí hoàn toàn đời sống của họ. Bởi vì cái gì chúng ta cho ra bên ngoài giống như nước đem đổ xuống biển và giống như chúng ta không có cách gì để có thể xây dựng một cái gì thật sự ổn cố ở trên cuộc đời này sau 5, 30 năm sống cuộc đời, nhưng nếu điều đó là một thái độ hướng nội tự xây dựng bản thân mình sẽ thấy không phải bản thân mình lợi lạc mà người khác cũng lợi lạc.
Bài kệ này lại nói lên 2 điều Đức Phật Ngài dạy đi chung với nhau ở bài kệ đầu tiên. Ngài dạy: tự thắng mình mới là chiến thắng chơn thật, mới là chiến thắng vẻ vang hơn là sự chinh phục người khác. Nhưng bên cạnh đó Đức Phật Ngài cũng dạy bậc trí biết tự điều phục mình là bậc trí sống với tinh thần tự chế. Tự chế tức là người đó có khả năng theo trong kinh Phật trong một đoạn Phật ngôn khác trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy: giả xử như một người đang sân mà họ biết kềm lại tâm sân của họ giống như một người đánh xe khéo điều khiển con ngựa đang nộ khí, con ngựa chứng người đánh xe có thể điều khiển được. Hình ảnh một người đánh xe có thể điều khiển được con ngựa chứng hình ảnh đó làm chúng tôi nghĩ là một trong những ví dụ rất đẹp về tinh thần tự chế hay tự thắng chính mình. Bởi vì đối với một bậc thánh đã hoàn toàn giác ngộ giải thoát.
Thì qúi vị Phật tử sẽ thấy bài học về nỗ lực tự chế không phải là bài học lớn đối với các Ngài, bởi vì các Ngài đã thuộc về một cảnh giới khác nhưng đối với chúng ta giống như một xa phu thiện xảo có thể điều phục sân tâm của mình tự giúp hoá lấy chính mình thì điều đó là một kỳ tích, và có những lúc chúng ta cảm thấy rất hạnh phúc vì kỳ tích này ./.
|
Saturday, 23 January 2016
Kệ Ngôn 102 và 103 - Chiến Thắng Tự Thân Mới Thật Sự Vẻ Vang
Kệ Ngôn 102 và 103
Chiến Thắng Tự Thân Mới Thật Sự Vẻ Vang
|
Nghe nhiều chẳng đến đâu Sao sánh bằng một câu Khiến tâm tư chuyển hoá Dù thắng ngàn binh tướng Trên trận mạc sa trường Không bằng thắng tự thân Ấy vinh quang tối thượng . Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali Ekaṃ dhammapadaṃ seyyo, yaṃ sutvā upasammati. 103. Yo sahassaṃ sahassena, saṅgāme mānuse jine; Ekañca jeyyamattānaṃ [attānaṃ (sī. pī.)], sa ve saṅgāmajuttamo. Minh Hạnh chuyển biên
TT Trí Siêu: Bài kệ 102 và 103 Đức Thế Tôn thuyết cùng một duyên khởi, nhưng ý nghĩa câu 102 không liên quan đến câu 103, do vậy chúng tôi sẽ tách riêng để thuyết giảng.
Kệ 102: Ở đây, tỳ kheo ni Kundalakesì vốn là một tiểu thư đài các đem tâm thương yêu một tên tử tội, cha của nàng đã mua chuột cho anh ta được mạng sống. Vì anh ta là một tên tướng cướp nên vẫn ngựa quen đường cũ với tâm chẳng lành đã manh tâm gạt gẫm cô tiểu thư tức là vợ của mình đi lên núi ngay chỗ vực thẳm với ý định giết cô ta để đoạt lấy vòng vàng nữ trang. Lúc bấy giờ nàng Kundalakesì chợt khởi lên một ý nghĩ và kế hoạch để thoát thân bằng trí tuệ khéo léo của mình nàng Kundalakesì đã gạt được chàng tướng cướp này và xô ngã xuống vực thẳm.
Sau đó nàng xuất gia làm một nữ đạo sĩ với biện tài lý luận cô đi từ chỗ này đến chỗ khác để tìm các vị sa môn, bà la môn và cô ta đã thắng các vị sa môn, bà la môn này với một ngàn câu lý luận mà cô đã học được từ nơi sư phụ của mình.Một ngày kia người nữ du sĩ này cặm một nhánh trâm trên mặt đất và tuyên bố nếu ai nhổ nhánh trâm này là người đó đã chấp nhận tranh luận với cô. Bấy giờ Tôn Giả Xá Lợi Phật Ngài đi khất thực ngang qua thấy như vậy Ngài mới bảo đứa trẻ đứng gần đó nhổ bỏ nhánh trâm đi và khi nàng nữ du sĩ Kundalakesì đến nơi thấy vậy liền hỏi những đứa trẻ chỉ cho biết do Tôn Giả Sariputta Xá Lợi Phất dạy cho chúng nhổ lên như vậy.
Khi nữ du sĩ Kundalakesì đi đến gặp Tôn Giả Xá Lợi Phất, Tôn Giả đã thừa nhận điều đó và một cuộc tranh luận khởi ra. Nữ du sĩ Kundalakesì dùng biện tài lý luận của mình để hỏi Tôn Giả Xá Lợi Phất những câu hỏi thật hóc búa. Tôn Giả Xá Lợi Phất vốn là một vị tướng quân chánh pháp, đệ tử tay mặt của Đức Phật, là bậc đại tuệ, là bậc đệ nhất trí tuệ thượng thủ thinh văn đệ tử của Đức Phật cho nên đối với Ngài thì cả ngàn câu hỏi, cả ngàn luận điệu lý luận như vậy không thấm vào đâu cả, Ngài trả lời một cách thông suốt, cuối cùng khi nữ du sĩ này không còn vấn đề gì để hỏi để nói nữa để tranh luận nữa thì Tôn Giả Xá Lợi Phất mới nêu lên một câu hỏi:
- Cái gì gọi là một?
Nữ du sĩ này bí lối không thể trả lời được cho nên nữ du sĩ này đã xin Tôn Giả Xá Lợi Phất chỉ dạy. Tôn Giả Xá Lợi Phất Ngài bảo rằng nếu như nàng muốn học ý nghĩa này thì cần phải xuất gia làm tỳ kheo ni. Nữ du sĩ Kundalakesì chấp nhận và được giới thiệu đến ni viện xuất gia trở thành một vị tỳ kheo ni, vài ngày sau tỳ kheo ni kundalakesi với trí tuệ của mình với sự nhiệt tâm nỗ lực đã chứng quả vị Alahán với 4 tuệ phân tích.
Khi các vị tỳ kheo hay biết chuyện này đã bàn luận với nhau về tỳ kheo ni Kundalakesì chỉ nghe một câu pháp đã thành tựu được quả vị lớn, trước đây nàng đã từng là một biện sĩ thông suốt ngàn câu lí luận của đạo du sĩ dạy thế mà nàng không được lợi ích gì nay chỉ nghe Tôn Giả Xá Lợi Phất nói một câu thôi nàng tỉnh ngộ. Rồi các vị tỳ kheo lại bàn luận thêm về thân thế của vị tỳ kheo ni này vốn là một tiểu thơ đã yêu thương một tên cướp rồi trong cơn nguy ngập cô tiểu thơ đã tự mình chiến thắng được tên cướp đó, quả thật là một người có trí tuệ vô địch. Khi Đức Thế Tôn đi đến giảng đường Ngài hỏi chúng tỳ kheo về câu chuyện được trình bày sau đó Đức Thế Tôn Ngài ngâm lên hai bài kệ này. Bài kệ thứ nhất
102.
Yo ca gāthā sataṃ bhāse, anatthapadasaṃhitā [anatthapadasañhitaṃ (ka.) visesanaṃ hetaṃ gāthātipadassa]; Ekaṃ dhammapadaṃ seyyo, yaṃ sutvā upasammati.
Cho dù ngàn lý luận
Nghe nhiều chẳng đến đâu Sao sánh bằng một câu Khiến tâm tư chuyển hoá và bài kệ thứ 2 Đức Phật thuyết
103.
Yo sahassaṃ sahassena, saṅgāme mānuse jine; Ekañca jeyyamattānaṃ [attānaṃ (sī. pī.)], sa ve saṅgāmajuttamo
Dù thắng ngàn binh tướng
Trên trận mạc sa trường Không bằng thắng tự thân Ấy vinh quang tối thượng
Ở đây. Hai bài kệ này có ý nghĩa khác nhau mặc dù Đức Thế Tôn đã thuyết cùng trong một duyên khởi,. Chúng tôi sẽ trình bày trước về câu kệ 102
Đức Phật Ngài giải thích hiệu năng của chánh pháp về chân lý cũng như chúng ta đã nghe câu kệ 100 và câu kệ 101 chỉ thay đổi từ vựng.
Câu 100 Đức Phật Ngài dùng từ Attha. Atthapadam: lời có lợi lạc,
Câu 101 Đức Phật dùng từ Gàthà là kệ ngôn : Gàthà: kệ ngôn
Câu 102 Đức Thế Tôn dùng từ Gàthà.
Ở đây không có một điều gì chúng ta phải thắc mắc Đức Phật Ngài thuyết mỗi trường hợp khác nhau, chúng ta chỉ cần hiểu trong những ý nghĩa Đức Thế Tôn thuyết Ngài nhấn mạnh về hiệu năng chân lý, hiệu năng của chánh pháp. Giáo pháp của Đức Phật không luận nói ít hay nói nhiều mới được lợi lạc, chỉ nói một lời có ích cũng là tốt hơn cả ngàn lời, dù thuyết một câu kệ có lợi ích đúng chánh pháp vẫn tốt hơn cả ngàn câu kệ, cho dù lý luận cả ngàn phương pháp cả trăm phương pháp cũng không tốt hơn là một câu pháp hữu ích.
Cách so sánh đó trước nhất chúng ta phải lưu ý vì do tánh cách của kệ ngôn uyển chuyển văn từ nên Đức Thế Tôn đã thuyết mỗi đoạn có từ ngữ được xử dụng khác nhau. Thứ hai, tùy theo trường hợp, tùy duyên khởi chẳng hạn như trong duyên khởi câu chuyện nêu ra một vị trưởng lão nói một lời nào đó với một người cư sĩ và người này chỉ cần nghe xong một câu khuyên bảo họ được thành tựu được giải thoát chứng ngộ chân lý. như vậy lúc bấy giờ bài kệ này Đức Thế Tôn gọi là vaca. Còn trường hợp ông Bàhiya ở câu kệ số 101 ông Bàhiya chỉ nghe một bài kệ gọi là gàthà.
Đức Thế Tôn đã nhấn mạnh về hiệu năng của chân lý giáo pháp của Ngài không luận phải nói nhiều, chỉ cần nói một câu một bài kệ nếu như có lợi ích đến việc giải thoát đưa đến sự đoạn trừ phiền não cũng có giá trị hơn cả ngàn ngàn lời nói hay một trăm bài kệ, một trăm vần thơ, cả trăm cách lý luận ở ngoài thế gian những điềukhông đưa đến lợi ích giải thoát, những điều vô ích cho dù chúng ta nói có nhiều đi nữa thì cũng chỉ rỗng không.
Vì vậy, khi nghe xong bài kệ này nói về hiệu năng của chánh pháp chúng ta phải biết cho dù chúng ta nói một câu pháp có lợi ích thiết thực cũng vẫn tốt hơn nói một trăm câu kệ, chúng ta ngâm cho người khác nghe cả một trăm một ngàn câu kệ nhưng người nghe xong không có lợi ích gì và không đưa đến sự an lạc cũng không bằng nói một câu.
Vấn đề này khi tu tập chúng ta cũng nên chú ý một điểm là ít nói tốt hơn là nói nhiều, chúng ta ít nói nhưng nói một câu hữu ích và một câu đem đến lợi lạc cho mình và cho người khác như vậy sẽ cao qúi hơn.
Người đời thường có câu nói: "một câu nói hay hơn là hay nói" có ý nghĩa như vậy bởi vì khi chúng ta nói hay tức là nói một lời nói có ý nghĩa sâu sắc và đưa đến lợi ích thì lời nói hay đó sẽ vượt hơn hẳn là chúng ta hay nói, tức là nói nhiều mà nói toàn là những lời vô ích. Ý nghĩa đó cũng tương tự như ý nghĩa trong câu Phật ngôn Pháp Cú chúng ta vừa nghe.
Đó là ý nghĩa của bài kệ 102
Kệ ngôn 103:
Duyên khởi đề cập đến giai thoại của nàng Kundalakesì nhưng ý nghĩa khác biệt hẳn với câu kệ 102. Khi các vị tỳ kheo bình luận về sự chiến thắng của nàng Kundalakesì còn là một tiểu thơ mặc dầu thân liễu yếu đào tơ đứng trước nỗi nguy hiểm một người chồng thất phu bạo ngược và nàng ta đã dùng trí tuệ của mình để chiến thắng anh chồng thì quả thật đây là một chiến thắng kỳ diệu. Khi Đức Thế Tôn nghe sự kiện này Ngài bảo với các vị tỳ kheo:
Dù thắng ngàn binh tướng Trên trận mạc sa trường Không bằng thắng tự thân Ấy vinh quang tối thượng
Nguyên văn ở trong chú giải Pali về câu kệ này dùng từ: Ekañca jeyyamattānaṃ là một ngàn tên tướng cướp cũng không bằng chiến thắng một tên cướp phiền não.
Ở đây, trong ý nghĩa này chúng ta biết ý Đức Thế Tôn Ngài muốn nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự tự khắc phục tự chế ngự bản thân, tự chiến thắng bản thân cho dù mình thắng được người khác, thắng được cả ngàn quân địch ở trên chiến trận nhưng sự chiến thắng đó mặc dầu thế gian cho là vinh quang cho là tốt đẹp nhưng ở đây những con người chiến thắng được như vậy những người đó cũng không thể nào thoát khỏi sự sầu bi thoát khỏi sự trầm luân sanh tử đau khổ, mặc dầu người ta thắng được người khác với sức mạnh phi thường họ có thể vật ngã cả trăm người ngàn người nhưng có một thứ kẻ thù mà họ không thể nào thắng nổi đó là chính nội tâm phiền não của họ:
Khi lòng tham chi phối cho con người chiến thắng vinh quang này thì con người chiến thắng vinh quang đó vẫn bị tham sai xử để làm những điều tội lỗi những điều ác quấy.
Khi phiền não sân chi phối dù người này là người đang chiến thắng vinh quang nhưng tâm sân si chi phối rồi thì người này cũng trở thành một kẻ nô lệ cho phiền não làm những tội ác do phiền não sai khiển.
Khi phiền não si sai khiến thì con người này dù là người đang chiến thắng vinh quang ở bên ngoài nhưng người đó cũng vẫn là con người u mê dốt nát vẫn là người được xem nhưsống trong bóng tối của vô minh.
Do vậy, đối với tinh thần của Đạo Phật thì sự chiến thắng người khác ở bên ngoài, sự chiến thắng đó không có vẻ vang không vinh quang, không bằng tự chiến thắng chính mình.
Trong câu chuyện Hiền Giả Cái Cuốc (Tiền thân Kuddàla) Đức Thế Tôn nhắc lại đời sống quá khứ của Ngài khi còn là vị đạo sĩ Kuddàla. Vị đạo sĩ này có tên Kuddàla bởi vì người đạo sĩ đó trong đời sống tu tập bị chi phối dính mắc bởi một vật ngoại thân đó là cây cuốc. Vì xuất thân là một nông dân trồng trọt ruộng nương cho nên ông đã thuần thục trong nghề nghiệp trồng tỉa của mình. Vào những mùa khô không thể sới đất trồng tỉa được người nông dân này đi xuất gia làm đạo sĩ nhưng đến khi mùa mưa về thì vị đạo sĩ này chợt nhớ đến những nương khoai những nếp đậu mình đã gieo trồng thu hoặc huê lợi như thế nào, người đạo sĩ đó luyến tiếc và xách cây cuốc với gói hạt giống mà vị đó đã mang theo cất gần nơi tịnh thất trở về hoàn tục và làm việc nông nghiệp. Rồi vào mùa khô năm sau lại đi xuất gia. Cứ đi xuất gia rồi trở về trồng trọt đi xuất gia rồi trở về trồng trọt liên tục cho đến lần thứ 7 vị này hạ quyết tâm rằng chính vì cái cuốc và gói hạt giống này đã làm cho ta chi phối dính mắc không thể nào tu tập được không thể nào thuần ý trong thiền định do đó vị đạo sĩ đã đi đến bờ sông sau khi tắm rửa vị này đã can đảm ném cây cuốc và gói hạt giống vào giữa giòng sông. Với một chiến thắng trận giặc lòng vinh quang như vậy đạo sĩ đã reo hò đắc thắng. Khi đó đức vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại vừa hát khúc khải hoàn sau khi tảo trừ bọn cướp ở biên địa Đức Vua về ngang nghe nghe vị đạo sĩ khoan khoái thốt lên như vậy Đức Vua lấy làm khó chịu Đức vua mới đi đến tận nơi và hỏi thăm:
- đạo sĩ đã chiến thắng ai chiến thắng như thế nào, người chiến thắng bây giờ là trẫm mới đúng?
Lúc bấy giờ đạo sĩ Kuddàla đã trình bày với Đức Vua biết rằng Đức Vua đã thắng giặc ở bên ngoài nhưng trận giặc lòng ở bên trong Đức Vua chưa chiến thắng được. Còn bần đạo chiến thắng được giặc ở bên trong bởi vì tâm luyến ái cảnh ruộng nương đồn điền cái cuốc và hạt giống làm trở ngại việc tu hành nên bây giờ bần đạo dứt khoát đã ném bỏ được cái cuốc và gói hạt giống ở giữa giòng sông, như vậy đây là sự chiến thắng lớn lao vinh quang nhất tự chủ được chính mình chế ngự được chính mình. Đức Vua Brahmadatta nghe như vậy lấy làm hoan hỉ và Đức Vua sau đó cũng đã thu xếp triều đình rồi trở vào khu rừng xin xuất gia với đạo sĩ Kuddàla. Sau đó những vị đạo sĩ này đã chứng đắc thiền sau khi mệnh chung sanh về cõi Phạm Thiên.
Đức Thế Tôn nhắc lại câu chuyện đó để ngài dạy một ý nghĩa tầm quan trọng của sự khắc phục nội tâm cao quý hơn là sự chiến thắng người khác ở bên ngoài.
Nhiều khi lầm tưởng chúng ta có quyền uy có sức mạnh về lời nói hay sức mạnh về uy tín, sức mạnh về tài sản chúng ta lại có thể chế ngự khuất phục được người khác, chúng ta tự hào cho mình là người tài, người giỏi, người có bản lĩnh, nhưng nếu chúng ta dùng trí tuệ để suy xét sẽ thấy rằng chúng ta có thể thắng được người khác một cách dễ dàng nhưng để chiến thắng được mình mới là một điều khó. Chính vì vậy chúng ta thắng người khác không vẻ vang bằng chiến thắng chính mình, chiến thắng chính mình tức là chúng ta phải làm sao khắc phục đừng để tham, sân, si tà kiến sanh khởi như vậy mới được xem là chúng ta đã chiến thắng được mình.
Và ở đây, ngày nào chúng ta tu tập chúng ta chưa chiến thắng được nội tâm của mình thì ngày đó chúng ta vẫn phải bị sống ở trong hoàn cảnh khổ đau bởi vì chúng ta chưa khắc phục được chính mình là chúng ta chưa đạt được mục đích cứu cánh phạm hạnh.
Cho dù nữ đạo sĩ Kundalakesi là một nữ nhân khi còn là một tiểu thơ có một trí tuệ có một sức mạnh về tinh thần có thể thắng được một tên cướp hung tàng như vậy nhưng sau đó xuất gia làm nữ đạo sĩ, tâm của vị đạo sĩ này cũng không bao giờ được an ổn không bao giờ được yên vui không bao giờ được thánh thiện chỉ khi nữ đạo sĩ này giác ngộ và xuất gia trở thành một vị Alahán đã đoạn tận tất cả những phiền não thì sự chiến thắng chính mình đó lúc bấy giờ mới được xem như là hoàn mãn và đạt đến đỉnh vinh quang nhất.
Hai bài kệ này đã dạy chúng ta những điều hữu ích về luân lý của giáo pháp, trước hết về hiệu năng của chánh pháp chúng ta phải biết rằng dầu một câu pháp hữu ích và có liên hệ đến mục đích giải thoát và người nghe nghe một câu như vậy được tịnh lạc giải thoát tốt đẹp hơn cả trăm bài kệ thốt ra nhưng nghe chẳng ích lợi gì.
Tầm quan trọng của sự tự khắc phục ở bài kệ 103 chúng ta nên lưu ý và phải cố gắng làm như thế nào để tự chiến thắng bản thân mình và chỉ khi nào chúng ta chiến thắng bản thân mình không bị nô lệ trong vòng cương toả của phiền não, không còn bị phiền não sai xử nữa thì lúc bấy giờ mới thật sự là chiến thắng vinh quang là một sự chiến thắng tối thượng, cho đến khi đó chúng ta mới hoàn toàn được thoải mái an lạc.
Ý nghĩa của 2 bài kệ chúng tôi đã thuyết giảng từng câu mặc dầu cả hai bài kệ được thuyết cùng chung một duyên khởi nhưng có ý nghĩa khác biệt vì vậy phải giảng riêng và những điều nào chúng tôi trình bày trong ý nghĩa của 2 bài kệ này qúi vị có sự hoan hỉ nghe được hãy cố gắng tu tập thực hành theo đó. Bởi vì khi nghe pháp chúng ta hiểu được pháp và thực hành theo pháp bấy giờ mới thành tựu được lợi ích. Nếu chúng ta nghe pháp mà không trú tâm không khéo tác ý để hiểu pháp hay khi hiểu pháp chúng ta biết tán thán ý nghĩa của pháp chúng ta không thực hành như vậy cũng chẳng ích lợi gì ./.
|
Thursday, 14 January 2016
Kệ Ngôn 101 - Lời hay bất tất dông dài
Kệ Ngôn 101
Lời hay bất tất dông dài
|
Thánh thi tụng nghìn câu
Sahassamapi ce gaathaa anatthapadasa.mhitaaNghe nhiều lòng vẫn thế Sao sánh bằng dòng kệ Hiều rồi được thăng hoa . Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali Eka.m gaathaapada.m seyyo ya.m sutvaa upasammati. Minh Hạnh chuyển biên:
TT Giác Đẳng: Chúng ta có ba kệ ngôn ở trong phẩm Ngàn: kệ ngôn 100, 101 và 102. Lời của ba kệ ngôn này giống nhau nhưng chỉ có một đoạn khác nhau chúng ta lưu ý ở đây đó là; bài kệ 100 dùng chữ "vaacaa" nghĩa là lời nói. Lời nói ở đây chỉ chung cho bất cứ lời nói gì, như trong câu chuyện người đao phủ thủ chúng ta được nghe TT Trí Siêu giảng về Ngài Xá Lợi Phất khi Ngài gặp một ông cụ trước kia làm nghề đao phủ và ông không cách nào lắng tâm nghe pháp được, trong cách hướng dẫn trong lời nói ngôn từ của Ngài khiến cho ông có thể lãnh ngộ được. Hôm nay thì chúng ta lại nghe một bài kệ 101, bài kệ này không dùng chữ "vaacaa" là lời nói mà dùng chữ "gaathaa" nghĩa là kệ tụng hay là một bài kệ, ở đây chúng tôi dịch là "thánh thi" là bởi vì gaathaa là một thể rất là quen thuộc trong kinh điển Vệ Đà của Ấn Độ. Nhiều tác phẩm dài như là Bhagavad Gita - Chí Tôn Ca hay là Upanisad - Áo Nghĩa Thư, phần lớn những dạng kinh điển được viết trong giáo điển của Bàlamôn hay của Ấn Giáo thì được viết dưới dạng "gaathaa" do đó chúng ta có thể dịch là thánh thi hay là kệ tụng. Những bài kệ tụng thánh thi này thường là một mẫu kệ tụng rất quen thuộc đối với những tu sĩ Ấn Giáo, dĩ nhiên là chúng ta muốn nói đến Bàlamon giáo thời xưa cũng vậy. Ngày mai chúng ta sẽ gặp một chữ khác trong một câu kệ 102 là chữ "bhàse," thật ra bhàsati cũng có nghĩa là lời nói nhưng lời nói có lập luận căn bản, chữ "bhàse" khác hơn chữ "gaathaa" chúng ta có thể dịch là luận ngữ, hay là một phương ngôn tức là một cách nói nào mà lập ý thì ở trong một cái bối cảnh khác một mạch văn khác mà chúng ta có thể được nghe qua câu chuyện của Ngài Xá Lợi Phất trong duyên sự của kệ 102.
Kệ ngôn 101 đề cập đến câu chuyện của Bàhiya là một người xuất gia vì sự tình cờ, trong sự tình cờ đó lại cảm nhận rằng mình cũng có đạo phong kiểu cách hơn người, bởi lý do là thuyền tắp vào một khu làng rồi vì mất hết quần áo rồi vị này tự trầm những vỏ cây làm thành quần áo. Và người Ấn Độ thời bấy giờ thì họ rất sùng bái những vị đạo sĩ những vị samôn có cách sống hơi khác thường. Giống như ở miền Nam nước Việt có những người chuyên môn ăn ớt gọi là đạo ớt, hay chuyên môn ăn chuốt thì gọi là đạo chuốt, hay có một đặc hạnh gì thì họ gọi là ông đạo. Thì lúc bấy giờ người ta thấy Bàhiya mặc vỏ cây đi vào làng thì họ nghĩ đó là một vị chân tu một vị đạo sĩ đang tu trong hạnh gì đặc biệt. Mặc dù trở thành một vị đạo sĩ do hoàn cảnh đưa đẩy nhưng rốt cuộc Bàhiya vẫn là một người cảm nhận được ở trong lòng mình có một cái gì mời gọi để trở thành một người dấn thân vào cuộc sống tu tập. Có một chút đạo tâm và với sự sùng kính của những người chung quanh thì Bhàhiya dần dà cảm thấy đời sống của mình bỏ đi được nhiều thứ trong lòng cũng thanh thản khác hơn ngày xưa nhiều và thậm chí Bhàhiya nghĩ mình là một vị trọn lành, trọn lành tức là một vị không có phiền não nữa.
Cũng nên nói thêm rằng chữ Arahan vào thời xưa được dùng cho vị đã dứt sạch phiền não, không riêng ở trong đạo Phật mới dùng chữ Arahan mà ngay cả những vị đạo sĩ bên ngoài cũng đề cập đến chữ đó nghĩa là vị Trọn Lành hay vị Ứng Cúng. Rồi có một vị thiên vốn là quyến thuộc ở kiếp trước của Bhàhiya thấy vậy mách nước cho Bhàhiya rằng thật ra ông không phải là một vị Ứng Cúng Trọn Lành mà vị Ứng Cúng Trọn Lành đã ra đời tại miền trung Ấn này và Ngài đã ngự ở Xá Vệ. Nghe vậy thì Bhàhiya lên đường đến thành Xá Vệ để tìm Đức Phật. Cuộc hội ngộ của ông với Đức Phật là một cuộc hội ngộ tình cờ như là cuộc vào tu của ông khi bắt đầu vậy. Ông hỏi thăm người này người khác họ chỉ ông về Đức Phật là ai và ở đâu và ông đã gặp Đức Phật trong lúc Ngài đang đi khất thực.
Thông thường thì những Đức Thế Tôn khi các Ngài làm việc gì hay là dạy pháp thì Ngài dạy đúng thời, đúng lúc, đúng chỗ, chứ không phải là bất cứ lúc nào. Trong trường hợp Đức Thế Tôn Ngài đang đi khất thực với bình bát trên tay thì rất ít khi Ngài đứng lại để giảng pháp vào lúc đó. Thông thường hình ảnh chúng ta được nghe ở trong kinh, nếu một người như là Ngài Xá Lợi Phất lúc còn cư sĩ gặp Ngài A Xà Chí đang đi khất thực mà muốn đi theo nghe pháp thì sẽ đi theo Ngài cho đến khi Ngài đi xong chuyến đường khất thực trở về độ cơm xong thì mới bắt đầu hỏi đạo. Nhưng trong lòng Bhàhiya có cái gì nôn nóng, nôn nóng bởi vì nhiệt, nôn nóng bởi vì từ xưa đến giờ ông chưa bao giờ được cảm nhận một cái gì thật sự là một vị Thánh nhân giải thoát, nhưng hình ảnh của Đức Phật làm cho ông có niềm tin ngay là đây chính là bậc Vô Thượng Giải Thoát và tâm tư của ông bấy giờ trở lên khát ngưỡng được học đạo, được đón nhận sự chỉ dẫn và ông đã đến khẩn khoản để xin Đức Phật Ngài giảng pháp cho mình. Đức Phật đã cho ông biết rằng đó là lúc phi thời tại vì trong lúc này không phải là lúc để một vị Phật giảng pháp như vậy. Thì ông rất là khẩn khỏan, một sự khẩn khoản như một người khát nước mà bây giờ không uống nước được thì phải chết, thì thưa qúi vị Đức Phật Ngài đứng giữa đường Ngài đã dạy ông một bài kệ ngắn, bài kệ này là một bài kệ hết sức là quan trọng, ở trong bài kệ đó Đức Phật Ngài đã dạy rằng:
"khi nào thấy thì biết là thấy, khi nào nghe thì biết là nghe, khi nào suy nghĩ thì biết là suy nghĩ."
Và ý nghĩa của bài kệ này có thể nói rằng là một hướng dẫn rất ngắn, rất đại lượt về pháp hành thiền quán tức là một thái độ giác tỉnh đối với các giác quan của mình, và đặc biệt là đối với tâm ý của mình. Rồi Đức Phật Ngài dạy tiếp cho ông hiểu về cái ý lý thế nào là sự giải thoát. Ngài sau khi hướng dẫn một ít về thiền quán Ngài dạy cho ông thế nào là sự giải thoát. Bhàhiya sau khi nghe bài pháp của Đức Phật, nghe giống như nước như mật rót vào lòng, giống như một người khát nước lâu bây giờ được nước uống, nghe tới đâu thì nó thấm vào tới đó.
Trường hợp này chúng tôi nhớ khi ở gần Ngài Hoà Thượng ở chùa, có khi Ngài nói rằng có những thứ thức ăn thức uống mà mình ăn mình uống mình thấy như nó rót vào trong hố sâu, có những thức ăn thức uống mà mình nghe giống như nó đang thấm thía. Thì nghe pháp cũng vậy thưa qúi vị, có nhiều khi chúng ta nghe một điều gì đó nghe chỉ là một sự chấp chứa thêm tri kiến, nhưng có những lúc chúng ta nghe pháp nghe như thấm vào trong xương trong tủy của mình, ngay trong lúc đó thì chúng ta biết rằng chúng ta được tắm gội thật sự, được gội nhuần bởi ý nghĩa chân thực của pháp. Thì Bhàhiya cũng vậy trong trường hợp này, khi nghe Đức Phật giảng thì ông thành tựu đạo quả vô sanh, và theo trong sớ giải thì nói rằng chẳng những thành tựu đạo quả mà ông còn được chứng đắc các thần thông, một vị như vậy gọi là chứng đắc lục thông kể cả lậu tận thông. Sau đó không lâu thì vị này bị một tai nạn viên tịch chỉ một thời gian ngắn sau khi nghe Đức Phật Ngài thuyết pháp thành tựu đạo quả. Các vị tỳ kheo có thắc mắc về cảnh giới đến đi của vị đạo sĩ Bhàhiya này, vì các vị tỳ kheo đi khất thực theo Đức Phật, Đức Phật Ngài cho biết về hành xứ của vị này và về sự chứng đắc vô dư Niết-bàn của vị này. Một số các vị tỳ kheo rất kinh ngạc vì một người mà có thể thành tựu đạo quả trong thời gian ngắn như vậy, lúc đó Ngài đã dạy kệ ngôn trên. Kệ ngôn mà có thể là một gợi ý rất là quan trọng có thể là một tiền đề mà chúng ta thảo luận về sự tu tập và cách hành trì.
Thánh thi tụng nghìn câu.
Nghe nhiều lòng vẫn thế. So sánh bằng giòng kệ. Hiểu rồi được thăng hoa.
Có lẽ không riêng truyền thống Phật giáo Nam Tông, Bắc Tông hay Mật Tông mà hầu như có một số lớn trong chúng ta luôn luôn bị ám ảnh bởi một điều là trên con đường giác ngộ giải thoát chúng ta phải học rất nhiều có thể nói thiên kinh vạn điển hay cả một hệ thống giáo lý to lớn. Về điểm này nó cũng là một trong những lý do mà truyền thống trong lịch sử đạo Phật đã có một giòng thiền tách rời ra khỏi truyền thống cố hữu này, và chúng ta được biết đó là thiền tông của Trung Hoa hay là thiền Zen của Nhật Bản, những giòng thiền này họ đi đến một chỗ cực đoan hơn nữa là bất lập văn tự giáo ngoại biệt truyền, cho dù bất lập văn tự nhưng vẫn có những tác phẩm đồ sộ giống như Bích Nham Lục chẳng hạn. Nhưng một thái độ của thiền tông thường đề cập đến là một thái độ phải nằm ngoài những số lượng kinh sách to lớn như vậy. Đó là một đề tài chúng ta sẽ bàn ở chỗ khác.
Nhưng ở đây nói lên một điều là kho tàng chính thức về y học của con người thì có thể nói rất rộng lớn, nhưng để trị đúng bịnh của mình thường khi chúng ta chỉ cần một số thuốc nào đó, tất nhiên phải có những người có rất nhiều kiến thức về y học như bác sĩ hay dược sĩ để có thể kê toa chuẩn bịnh cho thuốc một cách chính xác. Nhưng khi với một người bịnh thì vị thầy thuốc có thể chỉ một liều thuốc một toa thuốc uống vài ba thang thì hết bịnh. Bên Thái Lan tại trường thiền dạy một loại thiền của Wat Panan Choeng thì họ cũng cố gắng để làm một giáo trình, chúng ta tạm gọi là giáo trình tại vì họ làm một thứ lớp về pháp tu niệm pháp thân như thế nào, dĩ nhiên chúng tôi không muốn đi sâu vào để bàn về pháp tu của họ, nhưng mà nói chung đó là một ví dụ rất tiêu biểu là có một số nỗ lực nhắm vào việc làm sao tu tập và con đường hành trình có lớp lang. Nhưng con đường tinh thần là một con đường rất là lạ, không phải một người được tốt nghiệp trong trường Văn Khoa với một kiến thức đồ sộ về kim văn cổ văn mà người đó có thể viết được những bài thơ ra hồn, và chúng ta biết rằng có những vị mà thơ và nhạc chỉ là được biết từ thời còn rất nhỏ nhưng họ có thể trong thi tứ đạt đến trình độ rất cao, là một vị thi sĩ với một vị giáo sư dạy Việt văn có thể hai cái nó không thể nào lấy cái này mà lượng định cái kia được. Thì tương tự như vậy có một số người học, có một số người hiểu, và có một số người thành tựu được cái mà được Đức Phật truyền dạy. Và không nhất thiết là người ta phải học phải hiểu, người ta học thật nhiều phải hiểu thật rộng rồi mới chứng đắc được cái to lớn, không có nghĩa là như vậy. Nên điều đó nói lên một ý nghĩa rất quan trọng về con đường tinh thần. Và thậm chí người ta còn nói đến một sự đả phá nặng nề vào kho tàng kinh điển truyền thống, chúng tôi tin rằng nó cũng là một thứ cực đoan khác.
Hồi nãy chúng tôi có thưa là uống thuốc chỉ có thể trong một hai thang thuốc là hết bịnh, nhưng muốn có được uống thuốc mà một hai thang hết bịnh thì chúng ta cần được sự chuẩn bịnh kê toa cho thuốc của những vị bác sĩ dượt sĩ và những người đó phải có trình độ rất khá. Cái khéo của chúng ta là làm thế nào đón nhận cái vừa phải, nếu chúng ta tin rằng chúng ta học hết bộ kinh này sang bộ kinh khác, hết tạng này sang tạng khác mà chúng ta có thể thật sự là người đa văn quảng kiến, và từ đó chúng ta mới đạt đạo chứng quả được thì nó là một cực đoan, bởi vì chúng ta quá tin vào cái kho tàng đồ sộ của kiến thức của pháp học. Nhưng nếu chúng ta phủ nhận pháp học mà chỉ đi vào pháp hành thì điều đó đôi lúc giống như mò kim đáy biển hay là đi đường chúng ta không cần bản đồ mà chúng ta cũng đi. Tuy nhiên cũng phải nói một điều là cái lẽ sống của tinh thần rất lạ lùng, điều quan trọng nhất của một người mang lẽ sống tinh thần là một thái độ rất cởi mở, một thái độ có thể đón nhận được.
Thưa qúi vị, chúng ta nghe vô số câu chuyện, ở trong đó có câu chuyện Trạng Quỳnh đãi Chúa Trịnh ăn một bữa cơm rất thanh đạm nhưng rất ngon, bởi vì khi đói thì một chút rau một chút cà một chút nước chấm cũng có thể là một bữa ăn ngon được, không nhất thiết phải là cao lương mỹ vị thức ăn cao sang ở chốn cung đình mới có thể làm một người đang đói khổ mới có thể sung sướng khi được bữa ăn. Chánh pháp mà được đem ứng dụng trong đời sống đòi hỏi một khả năng uyển chuyển và linh động rất nhiều. Chúng ta có thể nghe một điều gì đó rất thấm thía, thấm thía có đôi lúc không phải là vì lý luận dông dài hay lời nói cao xa, mà lúc đó chánh pháp nói đúng thời, đúng chỗ, đúng chuyện, và điều đó có khả năng chuyển hoá toàn bộ tâm thức của chúng ta thì điều đó mới có giá trị. Nên chi càng lúc về sau này chúng ta lại càng đối diện với rất nhiều nỗ lực để người ta trình bày đạo, người ta nói đạo lý qua những ngôn ngữ, qua những kỹ thuật, qua những phương tiện hết sức tinh xảo. Điều đó trên phương diện quảng cáo thì có thể được nhưng trên phương diện đạo thì đôi lúc không phải như vậy, có những lời nói tuy rất mộc mạc chân thành nhưng nói đúng chỗ, đúng lúc, và đúng người, thì nó có thể mở cho chúng ta một khung trời quang đãng, có thể đưa chúng ta đến bước ngoặc mới của đời sống.
Bài kệ này cũng giống như bài kệ số 100 mà chúng ta đã nghe nói lên một sự khẳng định của Đức Phật. Các vị tỳ kheo trong phàm tâm của mình thì có những thắc mắc rất tầm thường, không phải thắc mắc ở đây mà đó là một thái độ kinh ngạc trước một người mà có thể đón nhận chánh pháp một cách ít như vậy. Vào tiền bán thế kỷ 20 tại Thái Lan có một vị Thiền Sư rất lỗi lạc Ngài Ajahn Mun, Ngài là một vị Thiền Sư mà có thể được nói rằng đa số các bậc Thầy về trì hạnh đầu đà các bậc Thầy về thiền định của Thái Lan bây giờ hoặc xa hoặc gần là đệ tử của Ngài. Ngài tu theo phái Dhammayutti, và trong số đệ tử của Ngài thì chỉ có Ngài Ajahn Cha là theo Maha Nikaya Ngài chỉ học có ba ngày thôi, có một lần một đệ tử khác hỏi Ngài Ajahn Cha sao mà Ngài ở có ba ngày mà Ngài học được nhiều của Ngài Ajahn Mun như vậy, thì Ngài nói rằng: "một con người có mắt mà khi mặt trời mọc lên thì người đó có thể thấy được rất nhiều việc, quan trọng là mình có mắt hay không."
Thì thưa qúi vị cuộc sống bây giờ có những thứ rất thiếu nhưng có những thứ rất thừa. Có những thứ rất thiếu là bởi vì cuộc sống càng lúc càng lôi kéo chúng ta về một hướng với muôn ngàn sự chi phối và chúng ta thiếu hẳn một mặt nào đó. Ví dụ như tại học đường Hoa Kỳ ngày hôm nay thiếu hẳn môn đức dục, thiếu hẳn một ngành học về cuộc sống của con người nên sống như thế nào ở trong việc tu tâm hay xử thế hoàn toàn không có ở trong học của Hoa Kỳ. Nhưng mà có những cái rất thừa là bởi vì chúng ta đi vào bất cứ lãnh vực gì thì sách vở quá nhiều, chúng ta đi vào bất cứ ngành gì thì có vô số thứ để chúng ta học, hầu như là khi cần thì chúng ta có cả một kho tàng đồ sộ sách vở. Có đôi lúc người ta bắt buộc chúng ta khi muốn lái xe thì mình phải biết cách sửa máy, mình phải biết máy dầu cặn và máy xăng khác nhau thế nào, phải biết hộp số như thế nào, rồi phải biết hệ thống điện ở trong xe như thế nào. Những thứ đó thật sự nó không cần thiết. Một người lái xe giỏi có thể họ biết rất ít về máy móc, chỉ biết làm thế nào để coi chừng nước, coi chừng dầu, coi chừng nhớt, nhưng mà bây giờ những xe đòi hỏi như vậy. Đôi lúc chúng ta có đòi hỏi rất lớn với đời sống và thật sự hoang phí thì giờ với điều đó. Bhàhiya có hai điều rất may mắn, một là tự thân của vị này là một người có túc duyên đã chín mùi, nghĩa là balamật đã đủ, thứ hai nữa là gặp Đức Phật là bậc chân sư là một vị có thể cho thấy được cái gì cần thấy mà trong một giây phút thảng thốt ông có thể tìm thấy ánh sáng bừng khởi trong lòng, bởi vì lúc đó Bhàhiya có thể đến với đạo một cách trực tiếp mà không phải dông dài.
Thưa qúi vị cái chứng bịnh con mọt sách là chứng bịnh của hầu hết chúng ta ngày hôm nay, chúng ta chỉ vùi đầu trong kinh điển. Chúng tôi nhớ thi sĩ Triều Tâm Ảnh viết: "Kinh sách đốt không tìm ra Xá Lợi, chân ngữ xưa vùi dưới lớp tro tàn, ngón tay hồng nguyên trinh còn vị dọc, đầy hai bờ tri kiến dựng trơ gan." Đúng là kinh sách đốt không tìm ra Xá Lợi mà chân ngữ xưa vùi dưới lớp tro tàn, chúng ta ra đi lên đường với một gánh nặng rất cồng kềnh mà mình nghĩ rằng ở đó chúng ta có thể tìm được một giá trị chân thật nhưng chân thật đó không phải nhiều như vậy. Nó giống như trong đời sống hôn nhân gia đình có những người tìm được hạnh phúc gia đình bởi vì họ có thể tìm thấy được một sự cảm nhận rất chân thành, một số lớn khác thì họ xây dựng giá trị của gia đình ở trên một gia tài sự nghiệp và bao nhiêu điều kiện. Bản thân của chúng ta khi làm công việc gì thì chúng ta lại bỏ rất nhiều công sức để làm nhưng chúng ta lại không nắm được cái yếu lý để cuối cùng chúng ta rất mệt mỏi, làm rất nhiều nhưng cái mà chân thật cái mà chúng ta có thể cảm nhận được thì cũng không có bao nhiêu hết.
Bây giờ trở lại với kho tàng của pháp bảo thì phải nhận rằng không có một tôn giáo nào mà có một lượng kinh điển đồ sộ như đạo Phật và chẳng những lượng kinh điển đồ sộ mà có cả một hệ thống đồ sộ. Đức Phật Ngài hoằng pháp 45 năm và trong đó Ngài có rất nhiều đệ tử như Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên, Ngài Anan.v.v... các vị đều là những vị đệ tử lỗi lạc. Và suốt trong giòng lịch sử của đạo Phật thì những tư tưởng được tìm thấy trong kinh điển không phải là một tư tưởng đứng lại mà đó là một tư tưởng rất sống động, cái chất sống đó đã khai triển ra bao nhiêu nền văn học giáo hệ về sau này cái nào cũng đồ sộ cái nào cũng to lớn. Chúng ta có thể hãnh diện và rất là hoan hỷ thấy rằng mình đã thừa hưởng một gia tài tâm linh lớn lao như vậy. Có thể nói rằng nếu một người bằng thiện tâm thiện chí thật sự thì cái gia tài giáo pháp của Đức Phật để lại có thể nói hưởng cả đời không hết.
Nhưng mà rồi bên cạnh đó chúng ta không thể không nhắc lại một điều mà Đức Phật nhắc ở tại đây trong bài kệ trước số 100, bài kệ này số 101, và cả bài kệ kế số 102, ở trong những bài kệ này chúng ta lại nghe nói đến về một cái thước đo, một cái giá trị mà giá trị đó rất đốn ngộ, là bởi vì nghe dường như Đức Phật Ngài cho chúng ta biết rằng; nhiều lời thiên kinh vạn điển đôi lúc nó không bằng một lời. Nhưng chúng ta phải hiểu một cách rất rõ ràng tường tận tôn ý của Đức Phật tại đây, Ngài chỉ cho chúng ta biết rằng có possibility là một chuyện có thể xảy ra được và chuyện đó là chuyện hoàn toàn có thật vậy, nghĩa là một lời nói một kệ ngôn một câu luận ngữ nói đúng thời, đúng chỗ, đúng lúc, đúng căn tánh, thì điều đó có thể mở rộng cho cả một thế giới giải thoát mênh mông mà chúng ta không ngờ được.
Có một lần Đức Phật lại nói đến một hình ảnh rất là thôn giã, một hình ảnh mà chúng ta không có nghĩ rằng Đức Phật có thể dùng hình ảnh đó, Ngài ví dụ trí tuệ giống như hạt thóc hay là hạt trấu, nếu đặt nó đúng chỗ, nếu chúng ta cầm đúng chỗ nó có thể thủng da chúng ta, vị Phật tử nào mà chưa có niềm sống miền quê biết rằng hạt lúc hay hạt thóc nó rất nhỏ rất mảnh, nhưng nếu chúng ta không khéo thì nó có thể đâm vào tay chúng ta chảy máu. Thì Ngài dạy trí tuệ mà biết dùng đúng chỗ thì nó chọc thủng được vô minh. Một tờ giấy, chúng tôi không biết rằng qúi Phật tử có khi nào mà bị giấy cắt tay không, chúng tôi thỉnh thoảng bị tờ giấy cắt tay, tờ giấy rất là mỏng và không ai nghĩ rằng tờ giấy có đủ bén để cắt tay chúng ta, nhưng nếu nó đặt đúng chỗ và ngón tay của chúng ta mà lướt ngang vào đúng cái thế thì cũng cắt ngón tay của mình. Và những possibility - chuyện có thể xảy ra đối với đạo Phật là một chuyện hoàn toàn khả hữu, nó là một việc mà chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều không phải một thí dụ Bhàhiya mà có vô số trường hợp được tìm thấy trong kinh điển, chỉ một sự khai tâm rất là nhỏ mà điều đó có thể là một sự chuyển vận hết sức lớn không phải của một đời người mà của một giòng luân hồi./.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
|
Subscribe to:
Posts (Atom)