Saturday, 28 May 2016

Kệ ngôn 113 - Pháp Nhãn Tối Thượng - TT Giác Đẳng

Psychotheraphy, Meditation
Kệ Ngôn 113 
Pháp Nhãn Tối Thượng


Thap Nhi Nhan DuyenGiảng Sư: TT Giác Đẳng 

Sống trọn kiếp trăm năm
Không thấy pháp sanh diệt
Chẳng bằng chỉ một ngày
Lẽ vô thường thấu triệt






.
Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali
Yo ce vassasata.m jiive
apassa.m udayavyaya.m
Ekaaha.m jiivita.m seyyo
passato udayavyaya.m


Minh Hạnh chuyển biên:

Kệ ngôn 113 kinh Pháp Cú một câu kệ rất quen thuộc trong cách trình bày của phẩm Muôn Ngàn mà chúng ta được nghe Đức Phật làm một sự so sánh. Và đồng thời bên cạnh đó chúng ta lại nghe một câu chuyện rất quen thuộc khác đã trở thành một trong những tiền đề hết sức tiêu biểu cho truyền thống tu tập của Đạo Phật. Câu chuyện nói lên một người nhờ vào chánh pháp vượt qua nỗi trầm luân khổ ải của bản thân mình, câu chuyện nói đến một con người bị dìm xuống vì sự đau khổ vật vã và đã dùng đau khổ làm điểm tựa để đứng dậy bước tới và thành tựu tuệ giác nhờ thấu triển được sự đau khổ.

Có lẽ không có một cái gì khiến cho người ta dễ suy nghĩ về đạo Phật bằng hình ảnh Đạo Phật cứu khổ. Cứu khổ ở đây trong nhiều phương diện nhưng phương diện quan trọng nhất là đề cập đến đời sống tâm lý một người có thể tìm thấy ánh sáng của tuệ giác, có thể tìm thấy một cái nhìn mới xuyên qua sự bình tỉnh để phản tỉnh về nỗi đau khổ riêng của mình.

Trong câu chuyện này một lần nữa chúng ta nghe về một con người rất đáng thương. Thật ra, bởi vì xảy ra dồn dập nhiều thứ thì trở nên rất đáng thương, nhưng thân phận của người này cũng có thể là thân phận của nhiều người trong chúng ta chỉ khác nhau là một lúc trong một thời gian rất ngắn thiếu phụ Patàcàrà đã phải nhận chịu rất nhiều tang thương của đời sống.

Patàcàrà xuất thân từ một tiểu thư đài các con nhà giàu đem lòng thương yêu một thanh niên làm công trong nhà. Bất chấp sự phản đối của cha mẹ nàng quyết định sẽ sống trọn cuộc đời với chàng thanh niên này và dĩ nhiên cha mẹ cực lực phản đối họ đã dắt dìu nhau ra đi. Ra đi bởi vì thuần một động lực là chạy theo tiếng gọi của trái tim, cuối cùng họ cũng tìm thấy một nơi để xây dựng tổ ấm cho hai người.

Nhưng rồi năm dài tháng rộng đặc biệt lúc nàng mang thai, chúng ta được nghe rất nhiều những phong tục của Ấn Độ thời xưa và của một vài quốc gia ở vùng Trung Ấn có phong tục hễ mỗi khi người con gái có thai thì về quê mẹ để sanh nở. Patàcàrà cũng chạnh lòng một phần vì nhớ gia đình một phần vì nghĩ đến thân phận của mình cho dù rất thương chồng nhưng trong thời kỳ mang thai vẫn mong muốn được trở về bên mái ấm của gia đình.

Nàng không thuyết phục được chồng nên tự mình đã bỏ đi và đi giữa đường lại chuyển bụng và hạ sanh đứa con đầu lòng, ngay giờ phút đó người chồng rượt theo tìm tới được đem cả hai mẹ con trở về nhà. Không lâu sau đó nàng lại có thai đứa con thứ nhì và lần này cũng như lần trước, mặc dù rất thương chồng, mặc dù hiểu đường xa nguy hiểm cho một thai phụ như nàng nhưng nàng vẫn tha thiết mong mỏi được trở về để có thể khai hoa nở nhụy trong căn nhà của chính mình hồi còn thơ ấu và được sự chăm sóc của mẹ mình.

Nàng lên đường nhưng lần này không phải chỉ lên đường với bào thai trong bụng mà nàng lên đường dắt theo đứa con đầu lòng, đứa con còn rất nhỏ đi với nàng. Câu chuyện cho chúng ta biết cuộc hành trình đó là cuộc hành trình đầy nước mắt, nàng cũng đi và băng qua một đoạn đường rất vắng vẻ của núi rừng rồi chồng của nàng khi đi ra bên ngoài để kiếm củi về không thấy vợ của mình thì cũng chạy theo và cuối cùng bắt kịp nàng. Cũng vào giờ phút đó nghiệp duyên dun rủi một phần đường xa vất vả và một phần nữa đã tới thời kỳ sanh nở nên nàng sanh đứa con thứ hai ở bên vệ đường tại ven rừng. Người chồng bấy giờ vốn có một chút kinh nghiệm thấy thời tiết rất xấu mưa và rất lạnh nên tìm một nơi khô ráo tương đối cho vợ và hai đứa con của mình nghỉ ngơi tạm, người chồng lại vào trong rừng tìm củi với ý định trở về để sưởi ấm cho ba mẹ con.

Kể từ giây phút đó trở đi nàng phải đón nhận rất nhiều tai họa. Ngồi trú mưa ở một nơi khô ráo rất lâu vẫn không thấy chồng trở lại trời đã chiều rồi nàng mới dắt đứa con đi tìm, đi chỉ một đỗi rất ngắn thấy chồng nằm ở đó bây giờ chỉ là cái xác không hồn và nàng biết được với nét mặt và với vết thương biết là trong lúc đi tìm củi bị một con độc xà cắn chết. Vừa mới sanh con bây giờ lại một mình với hai đứa con thơ ở giữa rừng với xác chồng như vậy nàng chỉ làm được một việc duy nhất với đôi bàn tay yếu đuối của mình tìm một ít thứ có thể đắp lên trên thi thể của chồng, sau đó cắm một cái gì đó để làm dấu tích.

Sau khi đã làm những gì có thể làm được với đôi bàn tay yếu ớt của mình ở nơi rừng sâu núi thẳm như vậy nàng lại dắt dìu hai đứa con đi tìm về quê ngoại. Lúc bấy giờ theo câu chuyện kể thì thời tiết rất xấu mưa nhiều một cơn bão vừa mới đi qua nên khi đi ngang qua một giòng suối nước chảy hết sức mạnh nàng không cách gì để một thân mình mà ẵm hai đứa con đi qua được nên nàng để đứa con đầu ở bên bờ này và một mình ẵm đứa con vừa mới sinh băng qua ngang giòng suối để đứa con vừa mới sinh nằm bên bờ bên kia và trở lại với ý định sẽ mang đứa con còn lại qua bên bờ, lúc nàng đi được giữa giòng thì một con chim nhìn thấy một hai nhi đỏ hỏn nằm ven bờ giòng suối như một cục thịt thì con chim đó nhào xuống và cắp đứa bé đi.

Trong lúc đó nàng không biết làm gì, thân phụ nữ đứng giữa giòng suốt như vậy chỉ còn có nước đưa hai tay lên kêu gào để hi vọng rất mỏng manh con chim nghe tiếng sợ mà buông đứa con của nàng xuống. Nhưng tiếng kêu gào và đôi bàn tay vẫy lên như vậy đã không cứu được đứa con sơ sinh của nàng mà trái lại đứa con đầu đứng bên bờ bên kia tưởng đâu mẹ gọi mình nên nó đi xuống suối và bị nước cuốn đi chết đuối giữa giòng. Chỉ trong một thời gian rất ngắn nàng mất cả hai đứa con sau cái tang chồng.

Một buổi chiều trời rất buồn và chính bản thân của nàng bị gánh chịu số phận nghiệt ngã nhất của đời người phụ nữ đó là chồng và hai đứa con bị chết trong một thời gian rất ngắn chỉ vọn vẹn trước sau có một vài giờ. Thì có lẽ tâm trạng của nàng trên con đường trở về quê cũ là tâm trạng của một người lá rụng về cuội, bấy giờ với tất cả đau thương phũ phàng nghiệt ngã của đời sống tìm về với cha với mẹ tìm về đời sống gia đình dù có bị la rày dù có bị nhiếc mắng dù có bị người khác xem thường thì ở dưới tình thương của cha của mẹ có lẽ là niềm an ủi còn lại trong cuộc đời của nàng sau khi đã hứng chịu quá nhiều mất mát.

Cuối cùng qua bao nhiêu gian truân khổ ải nàng cũng tìm về được quê hương của mình. Vừa đến đầu làng nàng gặp những người thân quen nàng hỏi thăm về cha mẹ của mình, một người lớn tuổi nghe hỏi im lặng trong giây lát rồi họ chỉ cho nàng từ xa những vầng khói quyện lên như một đám cháy lớn nói đó là nơi dân trong làng đang hỏa táng cha mẹ nàng bởi vì cơn bão ngày hôm qua đã đi ngang làng giết chết rất nhiều người trong đó kể cả cha mẹ của nàng.
Với một người yếu ớt một người mẫn cảm mà lại trong thời gian hết sức ngắn bị nhiều khổ nạn, khổ nạn không phải trút lên thân của mình mà là cướp đi tất cả những người thân của mình. Chúng tôi có nghe một người nói rằng đôi lúc một người bị cụt tay cụt chân thì cái khổ đó không khổ lớn bằng khổ sanh ly tử biệt cái khổ phải xa người thân của mình. Cái khổ phân ly biệt ly đối với người thân của mình đôi lúc khổ đó nặng như một trái núi có thể nhiều hơn bất cứ nỗi đau khổ nào khác mà chỉ có những người trong cuộc mới cảm nhận được như vậy.

Ở trong trường hợp này chúng ta không cần phải dông dài cũng hiểu mọi sự việc xảy ra 5 cái chết của 5 người thân quả thật không còn có gì khác hơn nữa để cho nàng tìm thấy một điểm tựa nào và bấy giờ thì nàng trở nên điên loạn. Một người mà trong thời gian ngắn thân nhân mất đi và tất cả đều là tai nạn không có ai để trách móc mà chỉ có kêu gào với trời đất. Trong một lúc sự mất mát đó đưa nàng về với sự cô đơn tuyệt đỉnh, một sự tuyệt vọng không còn có một chút ánh sáng một chút ý nghĩa nào của cuộc sống tương lai nữa. Theo trong kinh nói Patàcàrà đã trở lên cuồng tâm loạn trí, nàng đã đi thất thểu ngoài đường, vừa đi vừa kêu gào lúc khóc, lúc cười ban đầu với tấm thân của thiếu nữ đau khổ rồi dần dà nàng trở nên loạn trí đến nỗi xé nát tất cả quần áo trên người của nàng. Nhưng bởi vì có túc duyên đã tạo nhiều ba la mật trong quá khứ nên phước báu dông rủi đã đưa nàng đến chùa Kỳ Viên và đi vào trong giảng đường nơi Đức Phật đang thuyết pháp. Có một người nào đó ở trong thính chúng lấy làm tội nghiệp trước hình ảnh một thiếu phụ cuồng tâm loạn trí như vậy đã ném cho nàng một chiếc khăn choàng và nàng tạm thời che tấm thân lỏa lồ của nàng.

Hình ảnh lời nói phong nghi của Đức Phật đã khiến cho nàng tìm thấy được một chút điềm tỉnh trong sự điềm tỉnh nàng có thể lấy chiếc khăn choàng đó phủ lên người của mình và ngồi xuống để nghe Đức Phật thuyết pháp. Đức Phật đã nói cho đại chúng như là lời nói trực tiếp cho nàng, Đức Phật đã cho nàng biết nước mắt sanh ly tử biệt trên mỗi một chúng sanh từ nhiều vô lượng kiếp nước mắt đó nhiều hơn nước trong bốn bể. Đức Phật đã không an ủi với một lời an ủi bình thường, hoặc an ủi với những lời hứa hẹn mà Đức Phật Ngài chỉ soi sáng cho Patàcàrà thấy nỗi khổ đó nó là một nỗi khổ trong muôn ngàn nỗi khổ và đó là bản chất thật của đời sống. Có thể thấy không ai trong cuộc đời này khi gặp sự khổ mà không cần sự an ủi. Ở đây, Đức Phật Ngài không dùng lời an ủi để dành cho Patàcàrà người thiếu phụ bất hạnh đó mà Ngài nhân dịp đó chỉ khai tâm và cho Patàcàrà thấy được nỗi khổ đó chỉ là nỗi khổ điển hình trong muôn ngàn cái khổ của kiếp trầm luân. Lời dạy của Đức Phật đã làm cho Patàcàrà ngộ và nàng thấy rằng đây là lúc thích hợp để trở thành vị Tỳ Kheo Ni.

Chúng tôi nhắc thêm một điều nữa, ngày xưa đời sống xuất gia có khác hơn bây giờ rất nhiều. Ngày xưa một người đau khổ bỏ vào chùa xuất gia có khác với ngày hôm nay, hôm nay đôi khi người ta nghĩ mái chùa là nơi nương náu, là dưỡng đường, là nơi dung thân cho những người không còn sinh lộ ở trong đời sống thế tục nữa. Thật ra một người xuất gia vào thời Đức Phật còn tại thế một hình ảnh đầy phấn đấu đó là sự lựa chọn rất can đảm bởi vì nhiều lắm ở trong chùa thì chỉ có một am tranh hoặc những gốc cây đó đây trong tăng viện hay ni viện còn lại thì vị tỳ kheo hay tỳ kheo ni hoàn toàn phải tự lo lấy đời sống của mình ngày ngày đi khất thực và khi trở về thì làm một việc cần thiết mà bậc xuất gia đã làm đó là tu tập cho đến khi thành tựu đắc đạo chứng quả , do vậy hình ảnh của nàng trở về trong đạo tràng của Đức Phật là một hình ảnh chuyển mình là một hình ảnh đi vào trong giai đoạn mới.
Rồi có một lần tỳ kheo ni Patàcàrà khi dội nước lên chân để rửa đã nhìn thấy những giọt nước rửa chân tan biến vào trong lòng đất đã chợt thấy được bản chất của hiện hữu. 

Hiện hữu chỉ là sự nắm bắt ở trong một lúc nào đó ví dụ như chúng ta nhìn thấy một cánh hoa đẹp, chúng ta nhìn thấy chiêu dương lên trên đầu núi cái óng ả của những sợi nắng buổi ban mai mình nghĩ đó là đẹp, thật ra mình chỉ nhìn ở trong một khoản khắc nào đó hình ảnh đó đi vào trong lòng. Nhưng nếu cuộc sống nhìn một cách toàn diện, cái gì đến và cái gì đi, cái gì do duyên có mặt rồi do duyên diệt tận, nhìn thấy một hình ảnh toàn diện như vậy chắc chắn chúng ta sẽ có một thái độ hoàn toàn khác với đời sống của mình nó giống như một ít nước giữ trong gáo dội lên chân và từ từ tan biến vào trong lòng đất những sự hiện hữu được nhìn thấy ở những lúc sanh cho đến lúc diệt.

Và không phải chỉ có chừng đó, nó còn một gợi ý rất lớn là ở trong mỗi con người chúng ta từ mỗi một sát na pháp cho đến sát na tâm pháp, từ hơi thở ra vào cho đến cảm giác vui buồn, từ cảm giác dễ chịu cho đến cảm giác khó chịu của cơ thể v.v.. mọi thứ không có tồn tại lâu dài mà nó chỉ là những đắp đổi của những bóng hình thoạt đến thoạt đi và sự hiện hữu là sự kết hợp của những pháp sanh diệt liên tục như vậy. Thấy biết và chứng ngộ Patàcàrà đã trở thành một vị Thánh Ni với đầy đủ lục thông, đây là một trong những thành tựu rất lớn để làm vừa đoạn tận phiền não mà cả hai phương diện tâm giải thoát và tuệ giải thoát rất cao. Về phương diện tâm giải thoát và chứng đắc các tầng thiền sắc giới, vô sắc giới và về phương diện tuệ giải thoát là thành tựu đạo quả và vị này thành tựu với đầy đủ lục thông có thể chứng đắc tứ thiền và cộng với lậu tận thông như vậy vị này là một trong những vị Thánh Ni có những thành tựu lớn về phương diện chứng đắc giải thoát kể cả hai phương diện tâm giải thoát và tuệ giải thoát.

Sống trọn kiếp trăm năm
Không thấy pháp sanh diệt
Chẳng bằng chỉ một ngày
Lẽ vô thường thấu triệt

Chúng ta đã nghe những câu Phật ngôn với ý nghĩa tương tự như vậy không phải một lần mà rất nhiều lần ở trong đời sống của mình có thể quá quen thuộc đến đỗi chúng ta nghĩ đó là một thứ nhân sinh quan của một đạo giáo một nhân sinh quan của một người Phật tử nói lên tâm trạng yếm thế của Đạo Phật. Nhưng bài kệ đó không phải là một bài kệ đơn giản để suy tư mà là một bài kệ đơn giản nói lên quan niệm của Đạo Phật về kiếp người.

Sống trọn kiếp trăm năm
Không thấy pháp sanh diệt
Chẳng bằng chỉ một ngày
Lẽ vô thường thấu triệt

Nói lên một sự nhận thức xác thực và sự nhận thức này có đôi lúc được xem như một cánh cửa đi vào giác ngộ giải thoát mà cổ Đức đã dùng chữ giải thoát môn để chỉ cho tính vô thường của sự vật.

Thật ra vô thường không phải là một triết lý, vô thường nói lên một cái nhìn chân xác về đời sống, chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều thứ ở trong đời sống của mình nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy một khía cạnh duy nhất đó là những gì mình thích. Lấy ví dụ chúng ta chỉ nhìn đóa hoa lúc nó nở lúc nó đẹp và khi đóa hoa đó tàn thật sự nó không nằm trong sự chú ý của chúng ta nữa. Hoặc giả cái gì mình có mình thủ đắc được ở trong đời sống trong lòng thì mình chỉ nghĩ đến những lúc những thứ đó thuộc về của mình, mình làm chủ nó và nó hiện hữu với tất cả sự hiện hữu khả ái khả ý nhất của điều đó. Nhưng khi nó đi rồi thì chúng ta tìm cách lãng quên, có thể chúng ta sẽ đi tìm đuổi bắt những hình ảnh khác mà chúng ta nghĩ rằng có thể thay thế hình ảnh này nhưng quả thật ở trên đời này không có cái gì có thể thay thế được.

Hơi thở vào hơi thở ra và vạn vật cũng vậy có sanh có diệt không phải là vì chúng ta chỉ muốn nhìn thấy sự hiện hữu của sự vật chúng ta có thể chối từ được sự chấm dứt của sự vật. Cuộc đời không giống như một cuốn phim video chúng ta coi trong máy, ở trong máy đoạn nào không thích chúng ta có thể cho nó qua nhanh như chúng ta muốn, nhưng cuộc sống thì nó đến và nó đi theo trật tự riêng của nó, chỉ có bậc trí nhìn thấy tiến trình trọn vẹn thành tụ hoại không của một kiếp, sanh tiến dị diệt của một sát na sắc pháp chúng ta tìm thấy được một sự hình thành và diệt tận của vô số nhân duyên của đời sống này thì lúc đó chúng ta mới có hình ảnh rõ nét về đời sống.

Ở đây, có một điều rất thú vị. Đạo Phật không dạy chúng ta phải đi rất xa phải học rất nhiều với một kiến văn rộng lớn thì chúng ta mới có hình ảnh xác thực về đời sống nhưng cái hình ảnh xác thực về đời sống có nghĩa là cái gì có đến có đi, cái gì có sanh có diệt mà chúng ta có thể nhìn thấy, và có thể nhìn thấy được chân tướng của vạn pháp ở trong thể trạng của hiện hữu và tan biến như vậy thì chúng ta mới có một hình ảnh trọn vẹn.

Và Đức Phật dạy không có mấy người thực sự hiểu bởi vì nếu chúng ta có thực sự hiểu được sanh diệt của vạn vật nó không những chỉ chuyển hóa được cái nhìn của mình về đời sống mà đó là một sự chuyển hóa toàn bộ những căn để của đời sống kể cả phiền não.

Chúng tôi lấy ví dụ những vị thiền sư thường đề cập đến đời sống của chúng ta là một đời sống của trốn thoát của tránh né. Chúng ta ngồi một lúc nào đó mỏi chúng ta đứng dậy bước đi, chúng ta đi một lúc chán thì đứng lại hay nằm xuống. Chỉ thái độ thay đổi oai nghi trong đời sống theo ý muốn của mình, mình thấy nó là tự tại nhưng với các vị thiền sư đó chỉ là sự né tránh thôi. Có đôi lúc các Ngài dạy nếu trong lúc chúng ta ngồi chân bắt đầu đau hãy ráng thêm một chút, cái ráng thêm một chút đó nó chẳng những gia tăng ý lực của chúng ta mà nó còn cho chúng ta thấy một khía cạnh, nó hé mở cho chúng ta thấy một thế giới khác đó là sự bất toàn của đời sống đó là sự chấm dứt cảm giác lạc thú.

Phải nói rằng có những lúc chúng ta vào ngồi thiền chúng ta rất hoan hỉ và hoan hỉ ngồi trước bàn Phật trước vị thiền Sư trong không khí nhẹ nhàng trang nghiêm để ngồi thiền. Nhưng cảm giác hoan hỉ đó chỉ có thể tồn đọng trong 10 phút, 20 phút rồi chúng ta cũng phải đối diện với một thứ khác đó là cảm giác lạc thọ không có tồn tại hoài ở trên thân của chúng ta. Và hỉ thọ không tồn tại hoài ở trong tâm của chúng ta mà nhường vào chỗ đó là tê nhức đó là đau buốt, đó là mệt mỏi, đó là mong muốn buổi ngồi thiền được chấm dứt. Chỉ khi nào chúng ta thực sự ngồi và có cố gắng thì chúng ta mới có thể nhìn thấy được sự vật rõ nét hơn như vậy còn nếu không cuộc sống của chúng ta chỉ là một cuộc chạy trốn thực tại.

Thì ở đây, khi đề cập đến trạng thái sanh diệt "Ai sống một trăm năm không thấy pháp sanh diệt", chữ sanh diệt ở đây có thể nói đó là một hình ảnh trọn vẹn một hình ảnh có đoạn đầu có đoạn giữa có đoạn cuối và không phải những thứ đó nó quá mờ ảo, không phải những thứ đó nó quá nhạt nhòa đến đỗi chúng ta không thấy được. Cái lý do chúng ta không thấy được tại vì thói quen của chúng ta không muốn thấy.

Những vị thiền sư thường mời chúng ta làm một cố gắng rất nhỏ là nếu chúng ta thích một cái gì đó thì đừng chận nó lại. Ví dụ quí vị thích mua một cái gì đó thì cứ đi mua đi nhưng bên cạnh đó chúng ta làm một tín hiệu của hiền giả đó là nhìn cảm giác đó một cách lẳng lặng để thử xem mình thích những thứ đó như thế nào và khi mình có nó thì cảm giác như thế nào và cảm giác ưa thích đó nó tồn tại bao lâu và nó chấm dứt lúc nào? Nếu chúng ta có được một cái nhìn lẳng lặng từ lúc nó sanh lên cho đến lúc nó chấm dứt thì cái nhìn đó là một cái nhìn toàn diện, chữ toàn diện ở đây không nhất thiết là cái nhìn đông tây kim cổ, không nhất thiết là cái nhìn nhân ngã bỉ thử, không nhất thiết là cái nhìn của hữu hình của siêu hình. Cái nhìn ở đây chỉ nhìn một sự việc trọn vẹn cả một tiến trình mà điều đó có một thay đổi lớn với đời sống đó là một bức tranh rõ nét toàn diện chứ không phải là cái nhìn bình thường của chúng ta chỉ nhìn cái gì mình thích và chỉ tập trung vào cái gì thật sự bắt mắt mình, điều đó không có ở trong cái nhìn của một thiền giả. Và vì vậy với một người có tập thiền và có đọc những trang kinh Phật thì hiểu rất rõ ý nghĩa này.

Ngài Ajahn Chah nói một con người có thể nắm một miếng vải không nhất thiết họ phải nắm được tất cả nhưng nếu nắm được một góc nào đó thì có thể kéo nguyên cả tấm vải lên.Thì tương tự như vậy người ta có thể nhìn thấy được sự vô thường trong cảm thọ của mình, trong hơi thở của mình, trong những chuyển biến của thân mình, nhưng mà ở đó người ta có thể nhìn thấy chân tướng của vạn pháp và của toàn thể các trạng thái pháp hữu vi như là Patàcàrà có thể nhìn thấy chân tướng của cuộc đời này trong những giọt nước tan biến vào trong lòng đất.

Chính vì vậy không ai có thể xem thường điều đó nếu nói một cách nghiêm túc bởi vì trong đó họ hiểu được tất cả giống như những người nghiên cứu ở phòng thí nghiệm đôi lúc vật thí nghiệm mà họ nhìn nó không nhất thiết là một vật lớn hay đôi lúc cái mẫu họ quan sát nó chỉ là mẫu rất nhỏ thôi nhưng hiểu được bản chất của mẫu thí nghiệm đó thì qua đó họ hiểu được rất nhiều về những gì tương tự. Thì ở đây khi một người nhìn thấy được đặc tính của sanh và diệt của đến và đi người đó hiểu được một điều quan trọng đầu tiên đó là thay đổi cái nhìn của mình, cái nhìn của mình là cái nhìn rất hời hợt cái nhìn của mình chỉ là cái nhìn thuần về bản năng, cái nhìn đó Đức Phật gọi là cái nhìn không có tu luyện.

Có những năm tháng chúng tôi ít để ý đến các loài cây kiểng trồng ở trong sân chùa, nhưng một lần quen với một đạo hữu thích trồng bonsai trồng kiểng đạo hữu đó có đề cập đến cách quan sát một cái cây, nhìn thân cây như thế nào để hiểu cái rễ, nhìn thân cây như thế nào để có thể hiểu loại đó thích hợp với mùa màng như thế nào v.v... Thì cái nhìn của vị chuyên nghiệp về trồng cây đó không phải là cái nhìn đơn giản chúng ta lấy mắt ngó mà chúng ta có thể có cái nhìn đó, mà cái nhìn đó phải dựa trên một cơ sở căn bản của sự hiểu biết, và chỉ khi nào mình thay đổi cái nhìn của mình thì cũng chiếc lá đó, cũng cái rễ đó, cũng thân cây đó chúng ta có thể lãnh hội sự việc khác đi. Tương tự như vậy, một hành giả nhìn thấy sanh và diệt của sự vật lâu ngày, đặc biệt là qua hơi thở của mình, qua cảm thọ của mình có cái gì liên quan đến nội thân, liên quan đến ngoại, thân liên quan đến 5 uẩn sắc thọ tưởng hình thức thì người này tự thấy được một chuyện rất quan trọng đó là cái nhìn bản năng của mình có vấn đề, cái vấn đề của nó là nó chỉ biết có một chuyện mà thôi.

Chúng tôi rất nhiều lần được nghe những câu chuyện về những ông cha bà mẹ có con ở trong tuổi 15, 16, 17, 18 cái tuổi con cái bắt đầu vừa mới lớn ham chơi và thích được tụ tập với bạn bè, một trong những điều cha mẹ rất khó là làm sao để cho con có một đánh giá đúng mức về thì giờ của mình, về bạn bè mà mình giao thiệp, về cái ưu tiên của đời sống để mình theo đuổi. Thông thường việc làm đó cha mẹ rất vất vả cho đến khi con lớn lên một chút mới biết cảm kích, thông thường thì con không hoan hỉ. Thì ở đó nói lên trong cuộc sống này không phải chúng ta mở con mắt chúng ta ra ở giữa ban ngày nhìn một chiếc lá trước mặt là ai nhìn cũng giống nhau, hoặc giả quí vị bước vô chánh điện không phải ai nhìn tượng Phật cũng có cảm giác giống nhau, và cũng không phải ai trong chúng ta ngồi ở trong pháp hội này khi đọc bài kệ:

Sống trọn kiếp trăm năm
Không thấy pháp sanh diệt
Chẳng bằng chỉ một ngày
Lẽ vô thường thấu triệt

Không phải ai trong chúng ta đọc bài kệ đó cũng có cảm giác giống nhau hết.

Một người quen thuộc với đề tài họ sẽ có cảm giác khác, một người có thể đào sâu vào đề tài có thể có cảm giác khác. Đôi khi chúng ta có kiến văn rất là quan trọng, kiến văn rất rộng lớn nhưng ngay lúc đó tự nhiên không thấy điều đó có ý nghĩa gì với mình hết. Không phải có một lần mà có rất nhiều lần trong đời sống của mình những cảnh ngộ bỗng nhiên làm cho chúng ta nhớ đến, nhớ đến cái gì? chúng ta nhớ đến một câu tục ngữ một câu thành ngữ nào đó ông bà đã để lại, câu thành ngữ đó mộc mạc đơn sơ giống như tâm hồn chơn chất của những người nông dân và có lẽ khi chúng ta còn nhỏ chúng ta không bận tâm chuyện đó, chúng ta chấp nhận câu chuyện gì cao xa, chúng ta thích những công trình nghiên cứu về khoa học, chúng ta muốn nói chuyện đông tây kim cổ. Nhưng mà rồi trong một cảnh ngộ nào đó bỗng nhiên một câu nói rất thường tình mà câu nói thường tình đó lại làm cho chúng ta hết sức thấm thía. Tại sao nó thấm thía là tại vì nó mở con mắt huệ của chúng ta, nó cho phép chúng ta đứng trên một vị trí mới nhìn thấy sự việc với một thái độ mới.

Ở đây, khi Đức Phật Ngài đề cập đến pháp sanh diệt, sự sanh diệt của pháp, chữ udayavyaya.m tức là sanh phải diệt. Hầu như đó là một việc rất đơn giản như chúng ta chỉ cầm một cái ly và ném cái ly xuống là chúng ta có thể nhìn thấy thế nào là một sự hiện hữu và sự hiện hữu biến mất. Nhưng ở trên thực tế thì không dễ dàng nếu chúng ta có thể nhìn thấy cái đứng, cái đi, cái sanh, cái diệt của thân mình, của tâm mình, cảm thọ của mình cái gì mà nó xảy ra trong mỗi chúng ta và thường chuyên thấy như vậy và thấy bằng thái độ có hiểu biết, thấy bằng thái độ thanh thản nhận chân ra sự vật thì nhân sinh quan của chúng ta không giống như nhân sinh quan của mình đang có.

Có thể nói, ngày xưa khi đề cập đến giáo lý vô thường, khổ, vô ngã người ta gọi là tam pháp ấn hay tam giải thoát môn hoặc giả người ta có thể dùng nhiều danh từ rất hoa mỹ rất cầu kỳ hoặc danh từ rất bình thường thì chúng ta nghe những điều đó nghe chỉ để nghe thôi. Nhưng bây giờ tự hỏi một câu ở trong trường hợp của Patàcàrà có thể cũng là hình ảnh của chúng ta trong một sự dồn dập trong một thời gian ngắn nào đó bỗng dưng có quá nhiều điều phiền lụy và sự phiền lụy ở đây hầu như từ sự tuyệt vọng này dẫn đến tuyệt vọng khác, một ông chồng bị rắn độc cắn chết mình có thể làm được gì, đứa con bị chim tha, một đứa con bị chết đuối giữa giòng mình có thể làm được gì, cha mẹ chết trong cơn thiên tai bão lụt mình làm được gì, và tất cả những điều đó có thể là mình hoàn toàn không muốn, tất cả những điều đó có thể mình sẽ bằng lòng đánh đổi nếu một người có một thân nhân qua đời và đặc biệt người thân nhân đó rất gần và rất thương đối với bản thân của mình thì có thể lúc đó mình có thể đánh đổi bất cứ thứ gì.

Chúng tôi mồ côi cha rất sớm lúc 10 tuổi, khi biết cha mình mất rồi có những lúc cho dù bắt đầu một cuộc hành trình đi không biết qua bao nhiêu gian khổ mà có thể tìm thấy được sự sống của người cha có thể mình cũng sẽ đi, mình chỉ mong gặp lại người cha của mình thôi. Tâm trạng đó khi nói đến khổ của sanh ly tử biệt đa số chúng ta phải làm gì với chuyện đó cho đến khi nào mình đặt mình ở trong tâm trạng đó và chúng ta có thể hiểu một phần tâm trạng của Patàcàrà thì lúc đó mình mới hiểu tại sao chỉ có những giải thoát môn của vô thường, khổ, vô ngã, chỉ có một người mà thay vì dùng tất cả sức bình sinh của mình để khóc và khóc mãi không ngừng thì chúng ta vận dụng tất cả can đảm mở mắt ra và nhìn thấy được nó là như vậy, con người ai cũng gặp sự sanh ly tử biệt lúc đó chúng ta sẽ hiểu được tại sao chỉ trong một phút nhìn thấy được sanh diệt hơn cả trăm năm sống trong cuộc đời này vô thường.

Nên chi đề tài 3 pháp vô thường khổ vô ngã Đạo Phật thường đề cập đến rất nhiều ở trong các pháp thoại, đề cập đến rất nhiều ở trong kinh điển, có đôi khi không khó để chúng ta hiểu trên phương diện lý luận trên phương diện ngôn ngữ, có đôi khi hoàn toàn không khó để chúng ta có thể hiểu trên phương diện triết lý nhưng rất khó để chúng ta đem sự hiểu biết đó hòa quyện ngay với cái nhìn thực tại của mình, cái nhìn thực tại đó là cái nhìn mà nó có khoản cách rất xa.

Chúng ta đọc câu chuyện của Patàcàrà chúng ta nghe những người chết vì bệnh sida, chúng ta nghe những người chết ở trong những trận chiến tranh, mình nghe hầu như là nỗi thương đau đó nó rất xa với mình và chuyện đó hầu như không bao giờ xảy ra cho mình. Mình có thể đọc những câu chuyện của những người chết vì tai nạn lưu thông, Việt Nam là một trong những nước tai nạn lưu thông xảy ra nhiều nhất trong thế giới tính theo tỉ lệ đầu người, thế mà có thể khi chúng ta nghe chuyện đó chúng ta nghe như chuyện đó chỉ xảy ra với những người khác nó không bao giờ xảy ra ở trên thân của mình, không xảy cho những người thân của mình và cho cuộc sống của mình.

Chúng ta tưởng tượng nó ở đâu đó mà mình nhìn thấy rất dửng dưng. Nhưng Đức Phật đã nhắc rất rõ một sự vô thường cái sanh và cái diệt không phải chỉ xảy ra với người khác không phải chỉ xảy ra với một con người quá nhiều bất hạnh như Patàcàrà, thật ra nó có thể xảy ra ở trong chúng ta và chắc chắn sự vô thường xảy ra liên tục bất tận miên mật ở trong từng giây phút một, không phải chỉ có sự vô thường của hơi thở, của cảm thọ của thân, cảm thọ của tâm, đến những chập tư tưởng mà hầu như toàn bộ cuộc sống như là những bong bóng nước, những bong bóng đó chúng ta nhìn ở bên ngoài không thấy gì, quan sát rất kỹ không có bong bóng nào đứng yên hết nó luôn luôn là sự luân chuyển của nhiều hình thức của nhiều dạng khác nhau để rồi cái này nở ra cái kia lại tan biến đúng là phù du, đúng là phù vân, đúng là một bức tranh vân cẩu. Chúng ta có dùng bao nhiêu danh từ đi nữa thì cũng không diễn tả được hết chỉ cho đến khi nào chúng ta nhìn điều đó như là một cái nhìn trước mắt của mình, trong hơi thở của mình, trong cảm thọ của mình, như là chúng ta nhìn đôi bàn tay của mình, thì lúc đó chúng ta cảm nhận được rằng tại sao nhìn vào cái sanh diệt mà nó có công năng chuyển hóa lớn như vậy./.

Tuesday, 10 May 2016

Kệ Ngôn 110 - Tịnh giới khiến đời sống có ý nghĩa - TT Giác Đẳng

Psychotheraphy, Meditation
Kệ Ngôn 110 

Tịnh giới khiến đời sống có ý nghĩa

Thap Nhi Nhan DuyenGiảng Sư: TT Giác Đẳng 

Dù sống đến trăm năm
Phóng túng, không thiền định
Chẳng bằng sống một ngày
Giới tịnh và thiền tịnh





.
Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali
Yo ca vassasata.m jiive
dussiilo asamaahito
Ekaaha.m jiivita.m seyyo
siilavantassa jhaayino.

Minh Hạnh chuyển biên:

Có lẽ một trong những đặc điểm của người tu tập hay bất cứ người nào đeo đuổi hoài bảo quan trọng trong cuộc đời là chúng ta phải đặt để những ưu tiên của cuộc sống mình.

Những ưu tiên cuộc sống có thể là những ưu tiên do cha mẹ, do xã hội đề ra. Nhưng riêng đối với một người tu tập những ưu tiên đó là giá trị chân thật trong đời sống này, và khi ưu tiên đó được đặt ra rồi thì mọi sinh hoạt trong đời sống chúng ta sẽ theo đó thay đổi. Sự chuyển hóa của nó rất màu nhiệm đến đỗi chúng ta không cần phải vật lộn với chính mình.

Chúng tôi nhớ nhân vật Tất Đạt trong quyển sách của Hermann Hesse được Ni Sư Trí Hải dịch "Câu chuyện giòng sông". Tất Đạt trinh bày với Kiều Lan tâm trạng của mình trong kiếp Samon, nói về tâm trạng một người có thể nhìn thấy rõ những cứu cánh cái gì mình hướng đến và tự nhiên tất cả những thứ khác đều sinh hoạt đi kèm theo ý hướng đó như một viên sỏi khi được ném xuống hồ viên sỏi đó sẽ tự nó tìm tới đáy hồ tại vì luật tự nhiên của trọng lượng là như vậy. Vì vậy đối với Đức Phật có thể nói Ngài nhìn cuộc sống tu tập một cuộc sống có ý hướng rõ ràng, ý hướng đó là Giác Ngộ Giải Thoát, ý hướng đó có được thể hiện tốt hay không tốt dựa lên trên một căn bản, tương tự như một người muốn làm một công việc gì đáng kể trong đời sống này thì họ phải có một số kiến thức hay một số khả năng tài chánh hay một số cơ sở căn bản về khả năng để họ có thể phát triển được.

Trong bài kệ 110 Đức Phật Ngài đặc biệt đề cập đến một sự việc nhân câu chuyện của Sadi Samkicca, vị Sadi này có một túc duyên đặc biệt ở trong quá khứ do túc nghiệp thuở xa xưa nên đời này vị Sadi này đắc đạo chứng quả lúc còn rất nhỏ và có một phước phần hộ trì mà không có cái gì có thể tổn hại được kể cả gươm đao.
Nhân có một số các vị Tỳ Kheo quyết định vào trong rừng tu tập Đức Phật Ngài biết có một hiểm nạn sắp xảy ra cho các vị Tỳ Kheo ở trong khu rừng này nên Ngài đã khuyên các vị hãy đến gặp Ngài Xá Lợi Phất để cầu thỉnh Ngài Xá Lợi Phất cho Sadi Simkicca đi theo. Ngài Xá Lợi Phất khi được các vị Tỳ Kheo yêu cầu như vậy Ngài hiểu ngay tôn ý của Đức Phật và Ngài đã trực tiếp yêu cầu vị Sadi Simkicca đệ tử của Ngài đi theo.

Như điều Đức Phật Ngài đã nghĩ, đó là nhóm các vị Tỳ Kheo đã gặp một bọn cướp, những người trong bọn cướp đó có một niềm tin rất mạnh mẽ về việc cúng tế thần linh. Chúng ta biết trong một số xã hội các nghề nghiệp họ thường có một số thần linh kể cả những nghề ở trong thanh lâu kỷ viện họ cũng có thần Bạch Mi chẳng hạn, những người ăn cướp này cũng có thần riêng của họ và điểm này sự thực hành hết sức quen thuộc trong tín ngưỡng của Ấn Độ thời xưa và ngày hôm nay. Cách tế thần của họ rất dã man bởi vì họ là tướng cướp và thần của ăn cướp thì phải là vị thần cúng tế bằng chuyện giết người cướp của, vì vậy thường thường trong mỗi lễ tế thần họ chọn nạn nhân vô tội đưa lên hoả đài và dùng cây đâm chết người này sau đó nổi lửa thiêu xác người này để cúng tế cho thần.

Vị Sadi Simkicca vốn có phước ở túc nghiệp hết sức thù thắng do vậy không có bất cứ tai nạn nào có thể làm thương hại được tính mạng và phong thái an nhiên cũng như những diễn biến kỳ lạ xảy ra trên người của vị Sadi này khiến cho đảng trưởng của bọn cướp phát tâm quy ngưỡng và không phải chỉ riêng người đảng trưởng qui ngưỡng mà những người lâu la khác thấy như vậy cũng làm theo, cuối cùng Sadi Simkicca đã cảm hoá được tất cả những người trong bọn cướp và đưa họ về chùa để gặp Đức Phật.

Câu chuyện đó được nhắc đến không phải chỉ qua những tình tiết kỳ lạ liên quan đến cuộc đời của vị Sadi Simkicca mà Đức Phật Ngài nhắc đến hai hình ảnh, hình ảnh của con người sống cả trăm năm ở trong số trăm năm đó họ sống dussiilo tức là sống trong ác giới hay sống phóng túng trong ác giới, họ mang lại vô số thương đau cho người khác, những hành động lời nói và việc làm của những người này không bao giờ có một chút gì quan tâm đến nhân quả, quan tâm đến cái lợi cái hại cho mình và cho người. Đức Phật Ngài đã làm một so sánh một người sống trăm năm trong ác giới như vậy không bằng sống một ngày có giới và có thiền định.

Có giới có thiền định ở đây là nếu một người muốn phát triển khả năng tập trung tư tưởng và chánh niệm tỉnh giác của mình thì người đó rất cần một căn bản đó là một đời sống có nghị lực, một trạng thái ổn định về phương diện tâm lý và sự ổn định này dựa trên một số nguyên tắc mà vị này sống.

Giới trong Đạo Phật đề cập xưa nay nói lên một cái gì có thể ảnh hưởng đời sống của chúng ta sâu đậm hơn là một số quan niệm của những người ở bên ngoài cho rằng giới cấm hay những điều răn đó là những nghi luật của tôn giáo mà chúng ta phải hiểu giới là những nguyên tắc từ những nguyên tắc này con người của chúng ta lấy lại một phong thái, lấy lại được một tinh thần vững vàng ở trong cuộc sống của mình, "àh cuộc sống cần như vậy chúng ta đã làm như vậy". Khi mình đã làm như vậy mình thấy yên tâm rằng mình đã không phạm vào những nỗi lầm nghiêm trọng và đồng thời khả dĩ có thể đi xa hơn trong cuộc sống tinh thần. Phải có một cái nhìn hết sức toàn diện mới thấy được giới quan trọng như thế nào ở trong đời sống thiền định.

Lấy ví dụ, khi chúng ta đề cập đến Bát Chánh Đạo, trong đó cái gọi giới phần là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng. Chánh ngữ là lời nói không gây thương tổn cho người khác và không gây thương tổn cho bản thân của mình, lời nói đó được hiểu là lời nói nằm ngoài bốn lời ác ngữ, lời nói tà ngữ và lời nói vọng ngữ, chúng ta muốn nói đến nói dối, nói đâm thọc, nói độc ác, nói nhảm nhí vô ích, thì những điều này đối với chúng ta chỉ là những gì đến và đi như gió thoảng, như mây bay. Có thể nói rằng có rất nhiều người xem lời nói của mình không có gì hệ trọng với cuộc sống cá nhân hết. Nhưng mà rồi với Đức Phật thì Ngài cho chúng ta biết rằng không có một người nào có thể đi xa hơn đời sống tinh thần mà người đó thiếu chánh ngữ hay những lời nói của họ lúc nào cũng nói vọng ngữ. Lời nói vọng ngữ chứng tỏ tâm tư của họ chưa có khả năng ổn định an lập và họ chưa có chịu trách nhiệm một cách thành thực với chính mình và người khác. Do vậy giới ở đây rất quan trọng.

Một quốc gia không luật không lệ, một quốc gia mà người ta chỉ làm theo cái gì hoàn cảnh đưa đẩy ví dụ như do điều kiện bắt buộc, một quốc gia mà nền pháp trị không có ổn định thì rất khó qui hoặch bất cứ kế hoặch tiến bộ gì lớn hơn xa hơn, bởi vì nó không có căn bản an lành của xã hội, xã hội không ổn định và bất cứ luật lệ gì đưa ra thì cái cơ may có thể được đem ra áp dụng rất ít mà cái cơ may bị hỏng trước khi đem áp dụng rất nhiều. Thì bản thân của mỗi người ở trong đời sống này cũng tương tự như một xã hội vậy, nếu chúng ta có được một số các nguyên tắc và những nguyên tắc này là những nguyên tắc được xem là những cơ sở của lời nói, hành động, việc làm, ý nghĩ chánh kiến của mình, thì từ chỗ đó người ta sẽ tạo dựng một niềm tin, tạo dựng một nghị lực. Chúng tôi nghĩ rằng chữ nguyên tắc dùng ở đây có thể làm cho mọi người có cảm giác cứng nhắc không có khả năng linh động nhưng thật ra nguyên tắc ở đây là nền tảng giống như một căn nhà cần đến cái nền cho kiên cố.

Thì chữ giới trong Đạo Phật dạy cho chúng ta một bài học hết sức quan trọng về cuộc sống cho dù chúng ta có biết đạo hay không có biết đạo, cho dù chúng ta có tu hay không có tu, có là người Phật tử hay không phải Phật tử chúng ta luôn sống với một số chủ kiến một số quan niệm, quan niệm cái này nên làm cái kia không nên làm, cái nên và không nên đó có đôi lúc do cơ sở thiếu trí tuệ của chúng ta, thì nó đúng là chữ dussiilo tức là ác giới. Cái nhìn của một người sống ở trong đời sống này nó có thể nói chúng ta có hằng bao nhiêu quyết định phải làm trong đời sống hàng ngày và những quyết định này đều dựa trên chủ kiến đó. Với một người khéo tu tập là một người đem giá trị và lời dạy của Đức Phật của vị Giác Ngộ để trở thành một phần trong nguyên tắc trong cái nhìn của mình, và khi chúng ta nằm xuống ngủ mà mình biết rằng những nguyên tắc đó được áp dụng, ví dụ như một người có thọ tam qui biết cái gì nên tin và cái gì không nên tin, không có thái độ chập chờn, không có thái độ nửa vời ở trong niềm tin của mình thì điều đó lại cho vị này một thế đứng an lập ở trong đời sống tu tập nhờ như vậy vị này lấy được nghị lực.

Một học giả lớn lên trong gia đình Do Thái giáo và ông đi hành thiền ở Insight Meditation Center dưới sự hướng dẫn của ông Joseph W. Huston. Khi ông nhìn 3 pháp của Đạo Phật bố thí, trì giới, tham thiền, 3 pháp được dạy cho người cư sĩ tại gia, và ông nhìn điều này sau đó ông đã viết một tập sách nói lên một sự phát triển mà ông gọi là sự phát triển quân bình, sự phát triển điều đặn về giáo dục con người trong quan niệm của Đạo Phật. Trong cái nhìn của ông cho rằng 3 pháp bố thí, trì giới, tham thiền thường được các nhà Sư Phật Giáo cho đó là pháp tạo phước của người cư sĩ, nhưng trên thực tế thì 3 pháp đó đặt ra nền tảng con người là ai và con người nên được hướng dẫn như thế nào:

- Khi con người sống biết ban bố tức là biết cống hiến, bố thí là biết cống hiến.
- Trì giới ông nói là đó là biết gìn giữ hay biết sống với nguyên tắc.
- Và thiền định tức là biết cách để thanh lọc nội tâm.

Thì ông cho rằng khó có thể đi tìm thấy một sự giáo dục nào gọi là chân chính trong loài người mà nằm ở bên ngoài 3 lãnh vực đó, lãnh vực mà con người sống với tinh thần cống hiến, sống với tinh thần biết gìn giữ, và đồng thời biết phát triển đời sống tâm linh của mình. Cuốn sách của ông viết không dầy nhưng khi đọc quyển sách đó chúng ta có cảm nhận được một điểm rất thân thiết giống như khi chúng ta đọc trong Thanh Tịnh Đạo trong 7 bước dẫn đến Giác Ngộ thì giới tịnh được xem là cơ sở bắt đầu để dẫn đến tâm tịnh tức là làm cơ sở cho thiền định.

Dĩ nhiên, thỉnh thoảng chúng ta đọc nhiều câu chuyện tích nói về nhiều người đi rất trực tiếp vào tuệ giác có nghĩa chỉ nghe Đức Phật thuyết pháp nghĩa là trong giờ phút đó khai triển tuệ quán và thành tựu được đạo quả. Việc đó là việc đối với những vị Balamật chín mùi, balamật đầy đủ, chúng ta có thể không thấy vị đó tu giới ở trong khoảnh khắc nhưng trong nhiều đời nhiều kiếp vị này đã dùng giới làm nền tảng. Những vị ai có học về pháp balamật thì hiểu rõ về điều này .

Tuy nhiên, khi nói đến phương pháp tu tập thì một trong những tự tại người hành giả hành thiền định phải có đó là khả năng tự chủ ở mức tối thiểu nhất, ví dụ như có những việc nên làm và có những việc không nên làm mà vị đó có khả năng để sống với quan niệm như vậy, thì đó là khả năng của tự chủ.

Thì sự tự chủ trong một vị thiền định đôi lúc không có to lớn như chuyện chúng ta nói không được sát sanh không được uống rượu v.v.. nhưng lấy ví dụ, nếu một vị ngồi thiền trong vòng một giờ đồng hồ và tới khi ngồi được 30 phút chân bị tê và lúc đó mình có ý tưởng làm sao để đứng dậy hay tưởng nghĩ đến chuyện gì khác không phải chăm chú vào đề mục thiền định nữa để mình trốn thoát khỏi sự thực hành của mình ngay trong hiện tại.

Ngay trong giờ phút đó một người có nghị lực và người không có nghị lực rất khác biệt nhau.
Một người có nghị lực một người có khả năng tự chủ họ có thể rất dễ dàng để từ ý nghĩ của họ làm một quyết định mà quyết định trung thành với những gì họ đã lựa chọn từ ban đầu từ phút họ quyết định ngồi xuống để hành thiền.

Nhưng ngược lại có một số người tâm ý không đủ mạnh như vậy , họ không có sức mạnh không có nghị lực, cuối cùng họ bỏ cuộc tại vì theo trong kinh Phật họ thiếu căn bản về giới.
Có lần một Phật tử hỏi về một chuyện là trong quan niệm hết sức từ chương của một số người thì cho rằng bố thí sanh ra giàu có, còn tại sao trì giới cũng là nhân sanh phú quí giàu có được? Ví dụ, những Phật tử thọ giới Chư Tăng thường hay dạy câu:

"Những người sanh về cõi an lạc cũng nhờ giữ giới, những người được giàu sang phú túc cũng nhờ giữ giới".

Đó cũng là câu hỏi thú vị bởi vì chúng ta quan niệm chỉ có sự bố thí mang lại sự giàu có nhưng Chư Tăng lại nói rằng:

"Những người sanh về cõi an lạc cũng nhờ giữ giới, những người được giàu sang phú túc cũng nhờ giữ giới, người chứng đắc Niết-bàn cũng nhờ giữ giới".

Thì ở đây có ý nghĩa là ngay cả một người khoan kể đến thiền định, khoan kể đến giải thoát, khoan kể đến một cuộc hành trình mang tánh cách nghiêm trọng về tinh thần, nếu một người trong tay họ cầm tiền và nếu họ không phải là một người có nghị lực tốt, một cái nhìn tốt thì đồng tiền đó có thể là một thứ lửa đốt cháy chính họ và sự giàu có thể mang lại cho họ vô số hiểm họa, họ không biết cách giữ đồng tiền như thế nào thích hợp thì một người có thể làm được chuyện đó thích hợp trước nhất là người đó phải có căn bản về chữ giới ở đây mà Đức Phật Ngài đã dạy.

Có lẽ không có một đoạn kinh nào làm cho chúng ta thấy được vai trò của giới đối với thiền định rõ nét như khi chúng ta bàn về thất tịnh tức là 7 pháp thanh tịnh hóa nội tại để thành tựu chánh trí như trong quyển Thanh Tịnh Đạo của Ngài Buddhaghosa, Ngài có một mô tả rất tường tận mà thậm chí Ngài đã đi xa hơn ở trong phần này là Ngài đã đặt để vào trong đó 13 pháp Thọ Đầu Đà. 13 pháp Thọ Đầu Đà là cái khái niệm vượt ngoài quan niệm về Ngũ Giới, Bát Quan Trai giới, Sadi giới, Tỳ Kheo giới và ở đó nói lên một ý nghĩa một người tự nguyện tuân giữ một số nguyên tắc nào đó và sự tuân thủ những nguyên tắc đó họ lại phát sanh ra nghị lực.

Điều này là một điều Đức Phật Ngài đã từng làm một so sánh trước khi Ngài thành đạo trong quá trình tu tập của Ngài. Ngài so sánh sự thành tựu của tuệ giác giống như 2 khúc gỗ chạm vào nhau để kéo ra lửa. Chúng tôi tin rằng một số trong chúng ta có lẽ chưa bao giờ dùng tới phương tiện này để nhúm lửa bởi vì chúng ta ngày hôm nay có rất nhiều hộp quẹt kể cả những phương tiện khác làm sao để có lửa nhưng hình ảnh kéo lửa của thời kỳ xa xưa rất dễ hiểu, nói chung chúng ta bỏ ít thì giờ để diễn tả ở tại đây, người ta dùng 2 miếng gỗ hay 2 vật rắn chắc đánh vào nhau thì nó sẽ tạo ra những nhiệt lượng và những nhiệt lượng ở trong mức độ thái quá nào đó thì nó sẽ tạo ra lửa mà nó có thể cháy được, thì có một dụng cụ để đánh lửa như vậy ở Ấn Độ ngày xưa họ vẫn dùng và ngày nay ở miền quê họ dùng hai miếng gỗ loại gỗ tên là katina loại gỗ này cứng có chứa chất dầu nhựa cây và Đức Bồ tát Ngài dùng ví dụ nếu 2 khúc gỗ đó ướt thì kéo không ra lửa được và nếu gỗ đó mục không còn rắn chắc thì cũng không thể kéo ra lửa được thì Ngài nói rằng một người đã sống ngâm mình ở trong dục lạc thì giống như 2 khúc gỗ bị ướt chắc chắn không thể kéo ra lửa được, một người không có thực chất nội tại họ giống như một khúc gỗ mục thì không thể nào kéo ra lửa được. Thì ở đây chúng ta thấy ví dụ này rất xác đáng nói rất rõ về hình ảnh tại sao có những bước cần thiết để phát triển tuệ giác.

Vài nhà giáo dục cho rằng trẻ em nếu học bài mỗi ngày được ngồi một chỗ một cái bàn nào đó ở trong nhà, một góc nhà nào đó cố định mỗi ngày như vậy, và với một thời giờ nhất định đúng giờ đó các em đến đó ngồi tại chỗ đó để học bài thì các em sẽ dễ tập trung tinh thần đi ngay vào bày học hơn là nhà nghèo có khi ngồi góc nhà này có khi ngồi ngoài sân có khi ngồi sau nhà để học bài và học vào những giờ không cố định. Cơ thể và nội tâm của chúng ta trong một cái nhìn chiều dài phát triển trước khi có sự can dự của trí tuệ thì nó được hun đúc trên sức mạnh của tập quán của thói quen và nói về tập quán của thói quen thì giới sẽ giúp chúng ta ở điểm đó rất nhiều, có thể nói rằng nếu một số cái nếp nào đó trong đời sống mà nó rõ nét và chúng ta sống với cái nếp đó lâu ngày thì từ chỗ đó chúng ta có thể phát huy được tuệ giác nhanh chóng hơn là lúc đó chúng ta cũng phải lúng túng để làm cái việc đáng lẽ chúng ta nên có sẵn rồi. Một vị tướng ra trận và khi ra trận là họ phải tập trú vào địa hình địa vật và tập trú vào chiến thuật đánh như thế nào, mục tiêu phải chiếm như thế nào, trong lúc đó thì vị này cần phải lúng túng thì giờ phải an quân để làm sao cho binh lính được vững lòng và có những đội binh không tinh nhuệ họ không kỷ luật thì tất nhiên vị tướng dù có giỏi đi nữa thì cũng sẽ rất lúng túng, bởi vì sao vậy? họ chưa ở thế sẵn sàng để ra trận.

Thì ở đây Đức Phật Ngài hé mở cho chúng ta biết rất nhiều bí mật về cuộc sống này không phải cái trí tuệ bao giờ nó cũng đóng vai trò tiên khởi trong việc dẫn đạo mà chính là những thói quen và những thói quen này nếu nó là thói quen tốt thì nó sẽ làm cho chúng ta trong sự tu tập nhẹ nhàng đi rất là nhiều, dễ dàng đi rất là nhiều, nhanh chóng đi rất là nhiều trong việc đạt đến cứu cánh giải thoát. Còn nếu chúng ta không có kỷ luật tương đối căn bản như vậy chúng ta sẽ bị thiệt thòi rất lớn là trong lúc đáng lẽ phải ra quân và phải hướng đến mục tiêu và lúc đó thì tự mình vẫn còn lúng túng rất nhiều trong việc an quân, lúng túng rất nhiều trong việc tổ chức chặc chẽ đội quân của mình.

Đời sống của chúng ta cũng vậy một việc nhỏ khoan nói đến thiền định, chúng tôi nhớ ở trong một bài kinh có đề cập đến tâm tư của một người bố thí và người thọ thí, nếu người bố thí có giới thì tâm tư họ khác hơn sự bố thí của một người không có giới. Về điều này nói rất rõ giới tạo ra phẩm chất của nội tâm và dựa trên phẩm chất này thiền định được phát triển. Về điều này được mô tả rõ ràng trong thất tịnh và trong Bát Chánh Đạo, thậm chí những vị Chư Thiên sanh lên do phước bố thí hào quang cũng không sáng bằng những vị Chư Thiên sanh lên do có phước trì giới, và đặc biệt tâm tư của những vị Chư Thiên có giới ổn cố hơn những vị Chư Thiên sanh lên do quả phước của bố thí. Chúng ta được nhìn thấy những ví dụ như vậy ở trong kinh và không có gì ngạc nhiên về những thí dụ này.

Thì đối với Đức Phật khi Ngài nhìn những vị tân Tỳ Kheo xuất gia và những vị này trước kia là những lâu la trong đó có một vị đảng trưởng của bọn cướp bây giờ họ trở thành vị Tỳ Kheo, Đức Phật đã sách tấn họ bằng một lời dạy rất đơn giản ở trong bài kệ này Ngài cho biết họ có thể sống một trăm năm ở trong cuộc đời này sống rất thọ rất lâu và sống rất hiển hách bằng những chiến công oanh liệt của họ mà oanh liệt ở đây là cướp của giết người, đời sồng đó họ chỉ chạy theo những nguyên tắc mà những nguyên tắc này vốn hoàn toàn không có giá trị gì liên quan đến nội tại bởi vì nó không có xây dựng cơ sở cho sự định tâm và cho tỉnh giác tức là cho thiền định được. Bây giờ Ngài đem chuyện đó so sánh chỉ một ngày sống trọn vẹn ở trong giới và nó có cơ sở để làm cho thiền định thì Ngài cho rằng hai điều đó rất khác biệt cho dù sự khác biệt đó người ta đánh giá về phương diện luật pháp bên ngoài phương diện đạo đức ra sao đi nữa, thì đối với một người tu ở đây có một điểm rõ ràng là cuộc sống như thế không có phí phạm, dùng thì giờ đúng chỗ, đặt tâm trí đúng chỗ, và Đức Phật Ngài cho rằng giá trị của nó là một giá trị không những vượt bậc mà giá trị là giá trị kia không có một chút gì có thể so sánh được với giá trị này hết.

Về điểm này có lẽ chúng ta phải nói thêm đến một ý nghĩa khác là, mặt dù giới không phải cứu cánh, giới không phải mục tiêu sau cùng nhưng giới là bước đầu và có ai bắt đầu cuộc hành trình mà không cần đến giai đoạn đầu, cần đến bước đầu, và bước đầu đó không những cho chúng ta có được nghị lực mà giới thiệu cho chúng ta rất nhiều về thế giới nội tại, có thể nói rằng với một người giữ giới họ làm quen rất nhiều về những hành hoạt của thân của tâm và họ sẽ tìm thấy được một cách rất chân thành cái gì là cái mạnh và cái gì là cái yếu của họ. Không may là quan niệm về giới ngày hôm nay người ta đã phát triển đôi khi nó trở thành một thứ điều lệ của thanh qui tức là của một tu viện hay tổ chức nào đó là một thứ điều lệ người ta nghĩ về giới nó là sự bảo chứng cho một truyền thống, ví dụ như một người tu theo tông này phái kia phải ăn như vậy phải mặc như vậy.

Chúng tôi nhớ có một lần sang Tích Lan và chúng tôi đi theo một vị Trưởng Lão, vị Trưởng Lão này tu theo phái Siamnikaya tức là một truyền thống Phật Giáo cũng của Nguyên Thủy nhưng do Chư Tăng Thái Lan truyền sang và trên đường đi chúng tôi có cầm theo một chiếc lá,chiếc lá này đặc biệt của Chư Tăng một phái khác họ dùng để che nắng, và vị Tăng này không có vui nói với chúng tôi hãy bỏ chiếc lá đó đi tại vì nếu chúng tôi cầm chiếc lá đó người ta sẽ nghĩ chúng tôi đang đi với một vị Tăng không phải phái Siamnikaya .

Thì chúng tôi được biết rất nhiều những hình thức ở bên ngoài mà những hình thức này có đôi lúc người ta lầm tưởng nó là giới và kể cả có một bộ phận lớn của Phật Giáo khi đề cập đến giới thì chỉ là một ước lệ qui định thế nào là tông này thế nào là phái kia. Nhưng thực sự cốt tủy của giới Đức Phật Ngài dạy ở tại đây giới trước nhất là mang lại cho chúng ta cái nghị lực, nghị lực thấy rằng mình có khả năng tự chủ và thứ hai là nó mở rộng cánh cửa để chúng ta đi vào một thế giới và trong thế giới này chúng ta phải tự mình hiểu được mình phải phấn đấu lại chính thân và tâm chính những thói quen chính những tập khí của mình như thế nào.

Có thể nói tôn giáo thường được người ta đón nhận một cách rất nhanh chóng trong đời sống và đặc biệt là qua niềm tin và dựa trên niềm tin đó chúng ta lại đưa ra một cái nhìn hết sức chủ quan đó là giới luật của Đạo Phật đó là những điều Đức Phật Ngài bắt chúng ta phải tuân giữ tại vì chúng ta là Phật tử là con Ngài, điều nào lên làm điều nào không nên lên làm. Nói như vậy chúng ta chưa thấy cái dụng của giới tức là chưa thấy sự ứng dụng khả dĩ mang lại một điều kiện hết sức quan trọng, như chúng ta nói đến giới học ở trong Tam Học hay nói đến Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng ở trong Bát Chánh Đạo, hay Giới Tịnh ở trong Thất Tịnh. Thì về điểm này cũng nhắc rằng dĩ nhiên giới không phải là cứu cánh nhưng mà giới là bước đầu. Và Ngài Punna trả lời Tôn Giả Xá Lợi Phất: "Mặc dù cứu cánh phạm hạnh không phải là giới nhưng nó là trạm xe đầu tiên", thì phải đi đến trạm xe đó đến trạm xe thứ hai, rồi đến trạm xe thứ hai chúng ta phải đi đến trạm xe thứ ba. Nhưng không ai có thể đi một cuộc hành trình mà không qua giai đoạn đầu không qua trạm đầu tiên hết.

Dựa trên câu chuyện duyên sự của bài kệ ngôn 110 và cũng dựa trên ý lý của bài kinh thì từ bài kinh này trở đi chúng ta sẽ tìm thấy rất nhiều một số sự so sánh của Đức Phật. Và khi Đức Phật làm một cuộc so sánh như vậy thì dĩ nhiên là Ngài trực tiếp để khai thị cho một số người đang lắng nghe Ngài, những người này cần có một dứt khoát là cái gì là cái giá trị thật sự và cái gì không có giá trị thật sự. Thái độ dứt khoát trong sự lựa chọn này nó là một bài học lớn chẳng những nó là một bài học lớn mà nó còn giúp cho chúng ta tiết kiệm được rất nhiều năng lực của mình và biết đặt năng lực của mình ở chỗ nào đúng chỗ.

Đọc những chuyện tích xưa và những câu Phật ngôn tương tự Đức Phật Ngài đã gói ghém ở trong những câu nói đó vào một nhân duyên đúng chỗ, đúng người, đúng lúc, đúng việc khiến cho những người này họ có thể đón nhận những lòi dạy tuy rất ngắn ở trong 4 câu kệ như vậy nhưng nó đã trở thành một kết luận của họ về cái gì thật sự có giá trị một đời sống trước đây và đời sống bây giờ.

Thậm chí có khi Đức Phật Ngài lại nói một cách rất tỉ mỉ Ngài nói: "dù một khảy móng tay ở trong một khoảnh khắc rất nhỏ một người phát tâm từ đối với tất cả chúng sanh trong cõi đời này thì Như Lai cũng gọi đó là có công đức vô lượng lợi lạc".

Thì những cái thước đo như vậy, những lời dạy của Đức Phật như vậy không phải đơn giản, không phải dể cho chúng ta đón nhận vào lòng bởi vì đây không phải là câu ca ngợi bình thường mà điều này nói lên một vai trò một vị thế của một pháp môn và trong pháp môn đó nó là một khởi đầu, người nào mà khởi đầu tốt thì phải nói rằng người đó đã đi được ít nhất một phần ba đoạn đường, sự khởi đầu rất quan trọng, cổ nhân có nói "vạn sự khởi đầu nan". Nhưng có thể nói hơn thế nữa, không phải chỉ có sự khởi đầu nghiêm túc là cần thiết mà nó còn xây dựng cho chúng ta biết được hướng đi của chúng ta về đâu.

Chúng tôi nhớ có một lần trên một chiếc tàu ra ngoài biển khơi ngồi bên cạnh người tài công và nhìn vào la bàn người này nói với chúng tôi chỉ một hai độ lệch hướng thôi mà không cẩn thận thì cuộc hành trình nó đã hoàn toàn khác. Cái bước đầu là những gì người ta xem rất tầm thường nhưng bước đầu đó lại quyết định chung cuộc rất nhiều, nó quyết định phần đường còn lại rất nhiều. Có nhiều người xem thời thơ ấu của trẻ con không quan trọng nhưng chính sự giáo dục của cha mẹ dành cho con vào thời niên thiếu vào thời kỳ còn thơ ảnh hưởng lớn về sau này.

Cũng tương tự như vậy nếu một người có sự bắt đầu nghiêm túc, có sáng suốt về cơ sở về giới của mình, cảm thấy hoan hỉ trong giới, cảm thấy lợi lạc ở trong giới, thì người đó họ sẽ có những thành tựu rất lớn mạnh về sau này về thiền định. Về yếu tố này giải thích tại sao trong sớ giải nói trong đời này có những người hành nan đắc nan, có những người hành nan đắc dị, có những người hành dị đắc dị, có những người hành dị đắc nan, nghĩa là có những người tu khó mà chứng khó, có người tu khó mà chứng dễ, có người tu dễ mà chứng khó, có người tu dễ mà chứng dễ, là bởi vì sự bắt đầu của họ có cơ sở hay không./.

Monday, 25 April 2016

Kệ Ngôn 109 - Lòng Cung Kính Mang Lại Nhiều Phúc Lạc - TT Trí Siêu


Psychotheraphy, Meditation
Kệ Ngôn 109
Lòng Cung Kính Mang Lại Nhiều Phúc Lạc
KinhPhapCuGiảng Sư: TT Trí Siêu 

Với người năng kính lễ
Bậc cao niên trưởng thượng
Được bốn pháp tăng trưởng:
Sắc, lạc, lực, thọ mạng

.
Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali
Abhivaadanasiilissa
nicca.m vaddhaapacaayino
Cattaaro dhammaa va.d.dhanti
aayu va.n.no sukha.m bala.m.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Trí Siêu:Kệ ngôn 109 nói về phước thọ tăng trưởng khi người có tâm cung kính các bậc trưởng thượng.

Trước hết chúng ta nói về điều kiện để sống thọ. Ở đây, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo mỗi chúng sanh tạo thiện nghiệp khác nhau nên phát sanh tuổi thọ khác nhau . Bài kệ này Đức Thế Tôn thuyết lên trong trường hợp cậu bé Dighàyu con trai của một vị Bàlamôn gia chủ khi được một vị đạo sĩ Bàlamôn tiên tri cậu bé sống không quá 7 ngày nữa, người Bàlamôn gia chủ này khởi tâm lo lắng. .

Được người nhắc ngở, ông Bàlamôn này đến đảnh lễ Đức Phật và cầu xin Ngài cứu đứa bé. Đức Phật Ngài nói ông Balamon thỉnh Chư Thinh Văn La Hán về nhà kính lễ cúng dường và đặt đứa bé nằm ở giữa Chư Tăng ngồi chung quanh Chư Tăng sẽ đọc những bài kinh Paritta hay kinh cầu an cho đứa bé. Đến ngày thứ 7 Đức Thế Tôn thân hành ngự đến và Ngài ngồi hướng phía đầu của đứa bé. Bấy giờ toàn thể Chư Thiên, Dạ Xoa, Atula, những vị có đại thần lực đều qui tụ đến để đảnh lễ Đức Phật, Chư Tăng và nghe pháp. 

Trong một tiền kiếp đứa bé Dighàyu này có sự oan trái với một con Dạ Xoa kẻ phục dịch cho vị Thiên Vương Vessavana trong suốt 12 năm, bây giờ Dạ Xoa này được ân tứ cho thoát khỏi phục dịch và Dạ-xoa đó đi tìm bắt đứa bé. Đức Thế Tôn biết rõ như vậy nên Ngài dạy gia chủ Bàlamôn cha của đứa bé thỉnh Chư Tăng những vị có đại thần lực có đại uy lực của bậc vô lậu giải thoát, những vị đó và Đức Thế Tôn ngự đến thì hàng Chư Thiên có đại thần lực như Đức Trời Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương đi đến hầu pháp khiến cho Dạ-xoa này vì không đủ phước đức và uy lực so với các vị Chư Thiên nên đã lánh xa phía bên ngoài. Và sau 7 ngày là hết thời hạn của Dạ-xoa để bắt đứa bé thế là Dạ-xoa đã bỏ đi nơi khác và đứa bé được may mắn sống sót. Sau đó Đức Phật tiên tri đứa bé này sẽ sống thọ cho đến 120 tuổi.

Thật ra, tùy theo trường hợp, tùy theo hoàn cảnh của mỗi chúng sanh, không phải tất cả những việc làm như vậy đều đưa đến tuổi thọ cho một người nếu như người đó tạo nhiều ác nghiệp trong quá khứ. Nhưng riêng về cha mẹ của đứa bé và cả đứa bé khi đó vì có sự tương kính hoan hỉ kính lễ Đức Phật và Chư Tăng cho nên chính phước báu này thêm vào đó uy lực của Đức Phật và Chư Thánh Tăng do vậy đứa bé đã thoát nạn và được sống thọ.

Ở đây, mặc dù vậy, người Phật tử nên hiểu việc chúng ta thường năng lễ bái kính lễ các bậc giới hạnh và những bậc trưởng thượng trưởng lão đó là một trong 10 pháp hạnh phúc Apacāyanamaya tức là sự cung kính. Người xưa có câu nói " kính lão đắc thọ" cũng nằm trong ý nghĩa này. Khi một người có tâm cung kính đối với những vị trưởng thượng, những bậc có đức hạnh do nguyên nhân này tạo nên phước báu về phước đức. Một khi đã có phước đức những chúng sanh này thường phát sanh tăng trưởng với 4 pháp:

1. Thứ nhất, thọ mạng sống lâu
2. Thứ hai, sắc đẹp tức là dung sắc ngoại hình khả ái dễ nhìn dễ thương.
3. Thứ ba, an vui là tâm luôn luôn có sự phấn khởi hoan hỉ
4. Thứ tư là ít có sự bệnh hoạn, ít có sự đau yếu.

1. Một người khi có tâm kính lễ đối với các bậc trưởng thượng các bậc giới hạnh, người này với thiện tâm dẹp trừ tâm kiêu mạn hạ mình trước các bậc trưởng thượng và có sự kính lễ các bậc trưởng thượng các bận niên cao lạp trưởng. Xét về mặt tâm lý chúng ta thấy rõ những người có sự cung kính bậc trưởng thượng do phước đức này phát sanh lên tuổi thọ.

2. Người với tâm cung kính người khác không có lòng kiêu mạn, không có sự cống cao hống hách, không có sự khinh thường những bậc trưởng thượng thì khi đó tâm bên trong phát hiện ra bên ngoài. Một người có tâm khiêm cung như thế sẽ hiển lộ ra bên ngoài nét mặt tự nhiên một sự khả ái từ một nội tâm hiền thiện tốt đẹp. Đó là nguyên nhân phát sanh lên sắc đẹp.

3. Phát sanh lên sự an vui có nghĩa là người có tâm cung kính tôn trọng các bậc trưởng lão những bậc có đức hạnh thì tâm người này không có sự cống cao kiêu mạn nên người này luôn luôn với trạng thái tâm hoan hỉ. Khi tâm được hoan hỉ thỏa thích người này sẽ sống trong sự an vui.

Chúng ta đặt trường hợp khi chúng ta có sự cống cao kiêu mạn đối với người khác nhứt là đối với bậc trưởng thượng những người lớn tuổi hơn mình mà mình với tâm cống cao ngã mạn thì chẳng những là các bậc trí ở trong đời nhìn vào họ sẽ khiến trách chúng ta và bản thân của chúng ta do trạng thái tâm bất thiện không bao giờ chúng ta được sự an lạc. Ngược lại, nếu một người có sự hạ mình khiêm tốn và biết kính lễ các bậc trưởng thượng bao giờ người đó cũng có tâm an vui.

Khi một người sống được an vui thoải mái như vậy nói trên phương diện bệnh đau do thân tứ đại tiếp xúc với thời tiết hay hấp thụ bởi vật thực thì không thể nào tránh khỏi sự bệnh hoạn. Tuy nhiên những bệnh phát sanh do nghiệp hoặc những bệnh sanh ra do tâm phiền não thì những bệnh đó không có đối với những người có thiện tâm. Bởi vậy khi người có tâm cung kính tôn trọng những người kỳ lão những bậc trưởng thượng thì với thiện tâm này khiến cho người này tâm luôn luôn được thoải mái được an lạc vì vậy mà không thể có phát sanh lên những bịnh hoạn.

Khi chúng ta có sự âu lo có sự phiền não, hay chúng ta có sự bứt rứt lương tâm, có sự khó chịu nội tâm thì lúc bấy giờ thân thể chúng ta cảm thấy nặng nề nóng bức và phát sanh bệnh.
Ở đây bài kệ này có giá trị ở chỗ là khi chúng ta có sự khiêm tốn có sự cung kính thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ an trú trong điều thiện nên chúng ta sẽ thành tựu được những sự hạnh phúc. Đức Phật Ngài nêu lên rõ 4 pháp tăng trưởng: sống lâu, sắc đẹp, an vui và sức mạnh.

Trong kinh MAṄGALASUTTA kinh Hạnh Phúc Đức Phật dạy :

Gāravo ca nivāto Etammaṅgalamuttamaṃ. - Cung kính và khiêm tốn là phúc lành cao thượng là 2 pháp trong bài kinh Hạnh Phúc.

Chúng ta cũng cần nói thêm vấn đề sống thọ của chúng sanh nó sẽ tùy thuộc vào ác nghiệp hay thiện nghiệp của người đó. Trong bài kinh Cùlakammavibhanga sutta Tiểu Nghiệp Phân Biệt Trung Bộ Kinh Đức Phật Ngài cũng dạy những người nào nam nữ trong đời này không có tâm não hại, không độc ác, không sát sanh, không đoạt mạng sống của chúng sanh khác do hạnh nghiệp thiện này sau khi mệnh chung sẽ được sanh về cõi trời nếu sanh trở lại làm người thì người đó sẽ được sống trường thọ. Ngược lại những chúng sanh nam nữ trong đời này có lòng ác độc, có tâm não hại sát phạt chúng sanh, cướp đoạt mạng sống của chúng sanh do hạnh nghiệp này sau khi chết phải bị đoạ vào khổ cảnh địa ngục, nếu trở lại làm người sẽ bị yểu tử. Đây là những trường hợp chúng ta phải biết rằng nó sẽ tùy thuộc vào nghiệp thiện và bất thiện mà chúng ta đã tạo trong quá khứ.

Trong trường hợp cậu bé Dighàyu Đức Phật Ngài không có nêu lên ác nghiệp ở trong quá khứ nhưng chỉ có một vài lý do gì đó mà có sự oan trái với Dạ-xoa và Dạ-xoa này tìm đến đứa bé để bắt làm vật thực để nó ăn,thì lúc đó đứa bé này chỉ cần dựa vào phước đức cung kính tôn trọng đảnh lễ Đức Phật và Chư Tăng và nhờ uy lực của Đức Phật và Chư Tăng, uy lực của các vị đại thần lực chấn giữ ở chung quanh Dạ-xoa không thể nào hiếp đáp được do vậy đứa bé được sống thọ.

Còn nếu chúng ta nói ngay trong hiện tại một khía cạnh khác cũng để giúp chúng ta thành tựu được sự sống lâu thọ mạng. Trong chú giải có đề cập đến những pháp khỉến cho người được an vui thiểu bịnh và kéo dài tuổi thọ.

1. Thứ nhứt, trong sinh hoạt hàng ngày 4 oai nghi đi đứng nằm ngồi phải được điều hòa tức là có đứng, có đi, có nằm, có ngồi trong một ngày như vậy khiến cho thân này được khỏe mạnh ít có sự bệnh hoạn do đó được kéo dài tuổi thọ.

2. Thứ hai, làm việc thích nghi, làm việc hợp thời chẳng hạn như sau khi ăn xong chúng ta đọc sách chính nguyên nhân này có thể làm cho chúng ta lâu ngày sẽ bị bệnh tiêu hóa v.v... những trường hợp đó chúng ta phải né tránh một chút. Khi chúng ta làm việc hợp thời thích nghi, cơ thể cảm thấy dễ chịu, thoải mái và vật thực đã được tiêu hóa thì lúc đó chúng ta ít bệnh hoạn và được sống lâu.

3. Thứ ba, trong chú giải nói rằng biết sắp xếp và tiết độ trong việc ẩm thực, chỉ ăn những thức ăn những thức uống nào thích nghi với thể trạng mình và dễ tiêu hóa như vậy cũng là nguyên nhân khiến cho thiểu bịnh khinh an và tăng trưởng tuổi thọ.

4. Thứ tư, trong đời sống nếu chúng ta biết tiết dục tức là tiết độ sắc dục không sống đời sống trụy lạc phí sức như vậy cũng là nguyên nhân khiến cho chúng ta được thiểu bịnh khinh an và phát sanh tuổi thọ.

5. Thứ năm, cuối cùng là hãy cố gắng giữ như thế nào để đừng cho phát sanh lên phiền não. Nếu trong đời sống một người phát sanh lên phiền não nhiều quá thì chính phiền não đó sẽ chi phối làm cho phát sanh bệnh hoạn và bị giảm thọ.

Ở đây, trong Atỳđàm Vi Diệu Tạng giải thích người khởi lên tâm thiện thì sắc tâm sẽ tốt, chúng ta gọi là sắc tâm thiện được tươi nhuần. Còn nếu người khởi lên tâm bất thiện như tâm tham, tâm sân hoặc tâm si chẳng hạn sắc tâm sẽ bị héo sào do đó dễ phát sanh bệnh hoạn.

Như có những bệnh liên quan đến tâm phiền não chẳng hạn như bệnh trầm uất tức là căng thẳng thần kinh hoặc bệnh cao áp huyết hoặc những bệnh tai biến mạnh máu não chẳng hạn thì những bệnh đó chúng ta thấy phần lớn ảnh hưởng vào nội tâm người đó, nếu người này có sự lo âu phiền não nhiều bấy giờ huyết áp sẽ tăng hoặc trong lúc người này có sẵn bịnh cao áp huyết nếu người này khởi lên sự lo sợ thình lình thì người đó sẽ bị vỡ mạch máu là bị tai biến có thể bại liệt nửa thân người chẳng hạn thì trong trường hợp chúng ta thấy có những bệnh nguy kịch như thế đó.

Có những người khi họ phát sanh tâm ái tâm luyến quá mạnh họ cũng phát sanh bệnh như bệnh tương tư, sân hận giận dữ nhiều cũng phát sanh bệnh. Như vậy, nếu chúng ta muốn được phát sanh lên sự an lạc, thoải mái yên vui để tăng trưởng tuổi thọ thì chúng ta cố gắng hạn chế những phiền não như vậy.

Bằng mọi phương tiện Đức Phật Ngài đã thuyết pháp cho chúng sanh biết rõ những nguyên nhân nào đưa đến sự an vui và tránh đi những nguyên nhân nào đưa đến sự đau khổ. Trong sự an vui đó có những hạnh phúc như trường thọ sống lâu, sự an vui thiểu bịnh, hay sức mạnh, hoặc dung sắc thù thắng mỗi một pháp như thế chúng ta tìm thấy rải rác trong kinh điển chỗ này chỗ kia Đức Phật cũng thường hay dạy những pháp tu tập để phát sanh lên.

Trong 2 pháp làm cho sinh đẹp (Sobhaṇakaranadhamma) Đức Phật Ngài nhấn mạnh pháp kham nhẫn (Khanti) và nghiêm tịnh (Soracca). khi một người có đức tánh kham nhẫn chịu đựng trước những nghịch cảnh không tỏ lộ sự bất bình không có sự giận dữ cau có người này sắc diện sẽ được đẹp, tướng mạo sẽ được đẹp, người có sự nghiêm tịnh về thân về khẩu tức là lúc nào cũng có một sự an trú ở trong một pháp thiện không để cho tâm bị chi phối thì người này sẽ trở nên đẹp.

Ở đây, trong ý nghĩa này cho chúng ta thấy mỗi một thành tựu kết quả tốt đẹp là do một nguyên nhân thiện pháp khác nhau chứ không phải chỉ có một thiện pháp mà có thể thành tựu được bởi vì chúng sanh đa dạng và nhất là chúng sanh có hạnh nghiệp đa dạng khác biệt nhau tùy theo trường hợp mà Đức Phật Ngài thuyết.

Như trường hợp Đức Phật Ngài thuyết 4 pháp tăng trưởng sống lâu sắc đẹp an vui sức mạnh hằng có đến người năng kính lễ bậc cao niên trưởng thượng thì chúng ta phải hiểu trong trường hợp đó Đức Thế Tôn Ngài thuyết hạn hữu cho một số chúng sanh không có tạo ác nghiệp sát sanh ở trong quá khứ để tạo nên quả báu khổ đau trong hiện tại. Một khi có một ác nghiệp chi phối rồi thì dầu cho chúng ta có làm những điều như vậy thì cũng không thể nào tương xứng được.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh Anguttara Nikaya Đức Phật Ngài cũng có dạy:

"Người bố thí vật thực cho người khác đem lại cho người thọ thí sự sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh và trí tuệ biện tài do vậy thí chủ người bố thí vật thực cũng sẽ được thành tựu sự sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh và trí tuệ biện tài".

Đây là một điều chúng ta cần phải suy nghĩ và đó là một pháp chúng ta cần phải hết sức cẩn thận khi chúng ta suy xét, đó là một điều hết sức là lý thú khi chúng ta thực hành theo giáo pháp của Đức Phật. Chúng ta thực hành những pháp môn nào cũng được nếu là thiện pháp thì đều có tác dụng tốt đẹp.

Do đó,ở đây khi chúng ta nghe bài kệ pháp cú này thì đừng nghĩ rằng duy nhất chỉ có một pháp là chúng ta có sự cung kỉnh đảnh lễ bậc trưởng thượng là chúng ta đủ để phát sanh lên sự sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh mà còn nhiều phương pháp khác nhiều thiện pháp khác nữa tùy theo trường hợp Đức ThếTôn Ngài thuyết giảng.

Bài kệ này chúng tôi xin được chia sẻ cùng với qúi vị Phật tử chúng ta trong bài học hôm nay là như vậy./.
 

Saturday, 2 April 2016

Kệ Ngôn 108 - Sự cầu phúc hợp đạo - TT Bửu Chánh


Psychotheraphy, Meditation
Kệ Ngôn 108

Sự Cầu Phúc Hợp Đạo
KinhPhapCuGiảng Sư: TT Bửu Chánh 

Sự Cầu Phúc Hợp Đạo
Cả đời cúng tế vật
Để cầu mong phúc đức
Không sánh một phần nhỏ
Kính lễ bậc chánh trực

.
Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali
Ya.m ki~nci yi.t.tha.m va huta.m va loke
Sa.mvacchara.m yajetha pu~n~napekkho
Sabbam-pi ta.m na catubhaagameti
Abhivaadanaa ujjugatesu seyyo.

Minh Hạnh chuyển biên và tóm tắt

TT Bửu Chánh: Trên thế gian bất luận tế vật hay vật thực nào ta có thể cúng dường trong mỗi năm để tạo phước, tất cả những vật ấy không bằng đảnh lễ bậc chánh hạnh cao thượng.
Đây là câu kinh Pháp Cú mang tính so sánh. Trong câu kinh Pháp Cú 108 đọc lên chúng ta thấy so sánh giữa những lễ vật hay vật thực cúng dường và thực tế ở đây ám chỉ để tế thần, dầu việc làm đó chúng ta thực hiện cả trăm năm để mong cầu có phước báu, tất cả những điều ấy không bằng 1/4 sự đảnh lễ các bậc chánh hạnh cao thượng.

So sánh giữa một người có niềm tin khi chúng ta cúng dường lễ vật để tế thần, niềm tin đó không mang lại công đức phước lành bằng đảnh lễ bậc chánh hạnh. 

Lễ vật ở đây là gì? Theo bảng chú giải lễ vật ở đây là những gì người ta dâng tặng trong các dịp lễ, và cái gì người ta sắm sửa để dâng tặng với một niềm tin sẽ gặt hái được kết quả trong vòng nghiệp.

Chữ Yittham là lễ vật để tế lễ

huta.m là lễ vật gì đó mua để biếu tặng hoặc dâng tặng với niềm tin sẽ được gặt hái quả trong việc làm đó.

Ý nghĩa của câu kệ này là đảnh lễ một vị Thánh người đã thành tựu Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán nghĩa là bậc chánh hạnh. Ở đây, trong câu kệ này ám chỉ các vị đã giác ngộ giải thoát là Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán.
Trong phần duyên sự; một người bạn của Trưởng Lão Xá Lợi Phất Sariputta hàng năm tiêu phí rất nhiều tiền để giết các thú vật làm lễ tế thần và Đức Phật thuyết phục ông ta trở về phương pháp cúng dường chơn chánh. Như vậy câu kinh này ám chỉ những lễ vật cụ thể như giết thú để tế thần lửa với niềm tin được nhiều công đức, Đức Phật Ngài dạy công việc làm đó không mang lại công đức trong khi chỉ cần đảnh lễ một vị Thánh nhân một vị đắc được Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán có phước báu to lớn.

Câu chuyện duyên sự xảy ra tại Ấn Độ và ngày hôm nay còn một số người vẫn tin giết thú tế thần có nhiều phước báu, và rõ rệt nhất tại nước Nepal trên đường đi từ Ấn Độ đến nước Nepal hướng đến thung lũng Kathmandu thủ đô của Nepal là nước giáp với Ấn Độ. Tại Nepal có vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Bồ Tát đản sanh vẫn còn tục lệ giết thú để tế thần lửa dọc theo con đường đi từ Ấn Độ đến nước Nepal. Nepal ngày xưa nằm trong phạm vi nước Ấn Độ cổ đại, hiện nay đã tách ra thành nước nhỏ.

Như vậy sự cúng dường bằng cách giết thú để tế thần điều đó không mang lại kết quả lợi ích nào trong khi chỉ cần đảnh lễ một vị đă đắc Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán phước báu vô cùng to lớn. Như vậy ở đây sự so sánh giữa một người tin theo thần quyền phải dùng tới những lễ vật như thú vật và những lễ vật này mang tính phải giết hại với niềm tin như vậy chúng ta tạo thêm tội không giữ giới sát sanh.

Trong 5 giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, và không dùng các chất say. Thì giới đầu tiên là sát sanh . Và nếu như một người dùng lễ vật bằng hành động sát sanh giết hại chúng sanh để tế thần như vậy không những không có phước mà lại có tội và mang cái nghiệp sát sanh. Và nếu người nào mong cầu phước báu thì chỉ cần đảnh lễ bậc Thánh nhân bậc đã thành tựu giải thoát đã đắc Tu Đà Hoàn đã diệt trừ phiền não, Tư Đà Hàm đã làm giảm nhẹ dục ái và sân đắc. A Na Hàm đã dứt trừ dục ái và sân. Và đắc A La Hán là đã diệt tận ái sắc ái vô sắc ngã mạn phóng dật và vô minh.

Thì đãnh lễ cúng dường suốt năm cúng tế thú vật để cầu phước cả đời cũng không bằng 1/4 kính lễ bậc chánh trực. Bậc chánh trực ở đây hay là bậc chánh hạnh, là các vị Thánh nhân Tư Đà Hàm hay A Na Hàm, A La Hán.

Đề cập đến vấn đề cúng dường trong Trung Bộ kinh, bài kinh Cúng Dường Phân Biệt (Dakkhinàvibhanga sutta) Đức Phật Ngài dạy: Bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có trăm phần công đức. Bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có ngàn phần công đức. Bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có đem lại trăm ngàn lần công đức. Bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có đem lại vô số vô lượng công đức. Và bố thí cho một vị trên đường để chứng Tu Đà Hườn to lớn nhưng cũng không bằng bố thí cúng dường cho vị đã đắc Tư Đà Hàm. Vị đã đắc Tu Đà Hườn phước báu to lớn rồi nhưng cũng không bằng bố thí cho vị trên đường đắc Tu Đà hàm. Bố thí cho người trên đường đắc Tư Đà Hàm phước báu to lớn không bằng Tư Đà hàm. Bố thí cho người trên đường đắc Tư Đà Hàm phước báu không bằng bố thí cho người trên đường đắc A Na Hàm. Bố thí cho người trên đường đắc A Na Hàm phước báu to lớn cũng không bằng người đã đắc A Na Hàm. Bố thí cho người đắc A Na Hàm phước báu đó to lớn rồi cũng không bằng cho người trên đường đắc A La Hán. Bố thí cho người trên đường đắc A La Hán cũng không bằng bố thí cho các bậc A La Hán phước lớn không bằng bố thí cho Phật Độc Giác Bích Chi Phật. Bố thí cho vị Phật Độc Giác phước báu to lớn rồi cũng không bằng bố thí cho cúng dường đến Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Cúng dường đến Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác to lớn rồi nhưng cũng không bằng cúng dường đến Tăng Chúng.

Như vậy phước báu chúng ta cúng dường chúng tôi đã nhắc lại kinh Trung Bộ Đức Phật Ngài theo thứ tự 14 đối tượng để cúng dường và theo thứ tự từ thấp lên cao.

Riêng chúng ta giết chúng sanh để cúng tế thần lửa như tập tục của người Ấn Độ thờ thần lửa thời xưa mà hiện nay tại Ấn Độ và xứ Nepal xứ rõ nhất vẫn còn giết những con dê để tế thần lửa, đó không phải là sự cúng dường theo nghĩa bố thí mà đó là một sự sát hại chúng sanh. Niềm tin có một vị thần linh Thượng Đế trong Phật giáo phủ nhận điều này, Phật Giáo không chấp nhận Thần Linh và Thượng Đế Phật Giáo không chấp nhận. Việc làm tế lễ này mang tánh cách để thần quyền, không những không có phước báu mà còn có tội nữa.

Trong câu kinh Pháp Cú 108, khi mình làm những việc tế lễ thần linh bằng cách giết hại chúng sanh dù có làm cả năm trời như vậy cũng không có phước báu không bằng 1/4 chỉ đảnh lễ các vị Thánh chứng đắc đạo quả.

Sự đãnh lễ gọi là abhivandati trong tiếng Pali.

Đảnh lễ đến các vị bậc Thánh nhân, các bậc Alahán Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác. Bậc chánh hạnh hay bậc chánh trực hay bậc Thánh nhân ở đây ám chỉ các vị đắc các quả Thánh. Ví như mình gieo một hạt giống trên một mảnh đất màu mỡ đầy chất phân chất nước trên một mảnh đất tươi tốt thì quả phúc vô cùng to lớn. Còn nếu mình gieo trên mảnh đất khô cằn chắc chắn nó không lên được nhiều khi nó chết. Muốn có sự phước báu thì mình phải gieo trên một mảnh đất màu mở tươi tốt thì chúng ta sẽ gặt hái được.

Đức Phật Ngài dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn trên cõi trời có nhiều vị Chư Thiên dâng hoa trời cúng dường Ngài, cũng có nhiều người đến đảnh lễ Ngài nhưng Đức Phật Ngài nói sự cúng dường đó không bằng giới hạnh của sự tu tập của chính mình. Như vậy một vấn đề khác chúng tôi muốn nói sự cúng dường bằng tâm của mình, bằng tâm định. Sự cúng dường đến một cách cao thượng đó là sự cúng dường bằng sự tu tập giới định tuệ của mỗi người chúng ta./.

Tuesday, 15 March 2016

Kệ ngôn 107 - Không phải tín thành nào cũng quí - TT Pháp Nhiên


Psychotheraphy, Meditation
Kệ Ngôn 107

Không phải tín thành nào cũng quí
KinhPhapCuGiảng Sư: TT Pháp Nhiên 

Dù trăm năm thờ lửa
Chốn sâu thẳm rừng thiêng
Không sánh bằng giây phút
Kính lễ bậc thánh hiền
Phút giây qui ngưỡng ấy
Hơn trăm năm kỳ yên

.
Chánh văn kệ ngôn pháp cú do Thượng Tọa Giác Đẳng dịch từ Pali
Yo ca vassasata.m jantu
aggi.m paricare vane
Eka~nca bhaavitattaana.m
muhuttamapi puujaye
Saa yeva puujanaa seyyo
ya~nce vassasata.m huta.m.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Pháp Nhiên:Trong duyên sự kệ ngôn 107 : Trưởng Lão Xá Lợi Phất đến thăm người cháu. Trưởng Lão hỏi người cháu của mình vốn là vị đạo sĩ thờ lửa trong thời gian tu tập như vậy thì thường làm thiện sự nào. Người cháu bạch với Tôn Giả Xá Lợi Phất cứ mỗi tháng như vậy ông giết một con vật để tế thần lửa. Ngài Xá Lợi Phất hỏi làm như vậy nhằm mục đích gì? Người cháu của Ngài bạch rằng "Thông qua các vị thầy của ông việc tế thần lửa là con đường dẫn đến phạm hạnh dẫn đến Phạm Thiên giới". Khi nghe câu trả lời của người cháu trai Ngài Xá Lợi Phất nói con đường dẫn đến Phạm Thiên giới không phải như vậy và người biết con đường đưa đến Phạm Thiên chính là Đức Phật. Sau đó Trưởng Lão Xá Lợi Phất dẫn người cháu của mình đến gặp Đức Phật và khi gặp Đức Phật câu chuyện được trao đổi giữa hai người được lập lại trước mặt Đức Phật, nhân đó Đức Phật thuyết câu kệ ngôn này.

Ngày xưa theo cổ lệ tôn giáo Ấn Độ trong đó có Balamon giáo và trong giáo lý Balamon giáo có hình thức thờ lửa. Riêng đối với Phật tử VN có thể chúng ta xa lạ với hình thức này. Tôi xin trình bày như sau: Ở trong các sớ giải có kể các vị tu sĩ thờ thần lửa có những nguyên tắc rất chuẩn mực, một người theo Balamon giáo chấp trì hạnh nguyện thờ lửa khi con em ở trong gia đình mới vừa sanh ra đời họ thắp cho đứa bé một ngọn lửa, trong khoảng thời gian đứa bé còn nhỏ cha mẹ hay những người thân những người có bổn phận đối với đứa bé đó giữ gìn ngọn lửa cháy suốt trong khoảng thời gian đứa bé còn nhỏ cho đến khi trưởng thành, sau khi trưởng thành họ giao trách nhiệm chăm sóc ngọn lửa đó cho người thiếu nữ hoặc cậu thanh niên đã hoàn toàn trưởng thành. Với một người theo đạo Thần Lửa họ xem đó là một ngọn đuốc thiêng giống như một vị thần hộ pháp và họ tin tưởng vị thần hộ pháp này sẽ dẫn dắt họ về cõi trời Phạm Thiên. Người cháu của Tôn Giả Xá Lợi Phật cũng là một vị đạo sĩ thờ thần lửa, do vậy khi gặp lại Trưởng Lão Xá Lợi Phất người cháu của mình thuật lại tất cả những gì về nghi thức tôn giáo cho Trưởng Lão nghe. Sau khi Trưởng Lão nghe người cháu của mình thuật lại như vậy Trưởng Lão dẫn người cháu đến Đức Phật và Đức Phật đã thuyết câu kệ ngôn trên. 

Câu kệ ngôn này nhắc chúng ta nhớ trong Tiểu Bộ Kinh tập Jataka (Truyện Tiền Thân) kể lại câu chuyện tiền thân của Đức Phật khi Ngài còn là Bồ Tát, Đức Phật Ngài kể trong một tiền kiếp nọ Ngài là một vị đạo sĩ trong giòng giõi thờ Thần Lửa, Ngài lớn lên cũng theo truyền thống giữ gìn ngọn Lửa thiêng cha mẹ để lại. Khi đó Ngài với tâm lý xuất gia cao độ Bồ Tát từ bỏ gia đình sống trong am thất tại một cánh rừng nọ. Một hôm có việc Ngài phải xuống làng tìm những vật dụng cần thiết cho đời sống vị đạo sĩ. Trong khi Ngài đi xuống làng rời khỏi am tranh bất chợt có một cơn giông thổi đến và ngọn Lửa Thiêng Ngài đang thờ do vì ngọn gió thổi bạt vào vách thiêu rụi âm tranh của Ngài. Khi Đức Bồ Tát tìm tất cả những vật dụng cần thiết xong trở về Ngài thấy am tranh của Ngài đã bị ngọn Lửa Thiêng cháy rụi. Ngài khởi lên một nhận xét ngọn Lửa Thiêng mình tôn thờ từ hồi nhỏ do cha mẹ trao lại bây giờ Ngài trưởng thành Ngài luôn luôn một lòng tôn kính và lòng tin đó đã được đáp trả lại bằng một việc rất phũ phàng ngọn Lửa Thiêng đó đã đốt cháy rụi am tranh của Ngài. Qua sự kiện đó Đức Bồ Tát Ngài nhận ra có những việc chúng ta theo tập tục truyền thống hoàn toàn không có lợi ích gì cho mình như việc thờ Thần Lửa.

Câu chuyện người cháu trai của Tôn Giả Xá Lợi Phất giống như câu chuyện tiền thân của Đức Phật khi Ngài còn là bồ tát. Qua đó Đức Phật dạy nếu một người sưốt một trăm năm thờ tự như vậy, với thời gian đó không bằng một người chỉ trong một giây phút ngắn ngủi lễ bái cúng dường đến một vị Thánh nhân thật sự phước báu hơn nhiều.

Chúng tôi nhắc lại, khi chúng ta đọc tất cả các bản kinh Nikaya (Tiểu Bộ Kinh) sẽ thấy một điều rất đặc biệt, riêng đối với bản kinh Pháp Cú. Lấy ví dụ, khi đọc Trung Bộ Kinh tất cả các bài kinh được các vị A Xà Lê kết tập các Ngài chọn nhiều lý do để làm đề bài kinh. Chẳng hạn có một bài kinh các Ngài A Xà Lê lấy nội dung kinh để làm đề bài kinh, có bài kinh khác các Ngài A Xà Lê lấy đối tượng thuyết kinh Đức Phật Ngài thuyết cho ai tên tuổi của người đó sẽ được các Ngài làm đề bài kinh, ở trong một trường hợp khác các Ngài lấy một hình ảnh ví dụ nổi bậc nào đó trong bài pháp thoại thì các Ngài làm đề bài kinh, trong trường hợp khác nữa các Ngài lấy địa danh nơi thuyết giảng bài kinh đó làm đề bài kinh. Riêng trong tập kinh Pháp Cú này hầu hết 26 phẩm được các Ngài A Xà Lê lấy nội dung của mỗi câu kệ ngôn làm đề bài kinh và việc chọn tựa đó có ngụ ý. Do vậy, các vị Giảng Sư đã trình bày mỗi phẩm kinh Pháp Cú như vậy thì tên của Phẩm như vậy, thì chúng ta cần lưu ý.

Bài kinh Pháp Cú chúng ta đề cập hôm nay là phẩm Ngàn. Trong phẩm Ngàn khi chúng ta đọc hết phẩm này chúng ta thấy hai con số đó là số ngàn hay số 100 năm. Thì số ngàn chỉ là con số ước lệ chỉ một việc gì đó rất là nhiều. Rồi con số 100 năm là con số chỉ về giới hạn kiếp sống của con người. Trong bài học ngày hôm nay chúng ta có dịp gặp lại con số 100 năm Đức Phật Ngài đề cập thì 100 năm đó do vì trong khoản thời kỳ tuổi thọ của chúng ta ngày hôm nay kể từ thời Đức Phật cho đến chúng ta kiếp sống của nhân sinh trên dưới 100 năm. Khi Đức Phật Ngài đề cập con số 100 năm thì Đức Phật Ngài thuyết pháp vào bối cảnh đối tượng thuyết kinh và người nghe trong tuổi thọ 100 tuổi. Do đó chúng ta cũng phải hiểu thêm trong thời gian khác tức là ở trong những thời kỳ chúng sanh có tuổi thọ nhiều hơn thì nội dung của bài kinh này thời gian có thể được kể nhiều hơn.

Thì ở trong bài kinh Đức Phật Ngài đề cập đến con số 100 năm là tuổi thọ của một đời người và nếu như vào thời gian nào đó tuổi thọ nhân loại có cao hơn là 200 năm, 1,000 năm và 10,000 năm thì ở đây theo sự hiểu biết cá nhân tôi (xin quí vị nhớ cho ở đây là sự hiểu biết cá nhân), tôi chưa đọc bản sớ giải nào nói về con số này thì dầu cho chúng ta có sống nhiều hơn nữa thì Đức Phật vẫn nói rằng là nếu cả một đời sống của chúng ta chỉ không giới hạn ở trong 100 năm đó nếu chúng ta làm công việc vô ích thì không bằng ở trong thời gian ngắn ngủi chúng ta làm việc hữu ích.

Bài học ngày hôm nay nhân một duyên sự Đức Phật thuyết câu Pháp Cú này cho một người nghe là một vị Balamon vị tu sĩ thờ lửa ở trong một bối cảnh chúng sinh với tuổi thọ như vậy, Đức Phật Ngài dạy dầu cho chúng ta sống cả trăm năm tức là chúng ta sống suốt cả đời như vậy và chúng ta làm công việc như giết hại chúng sinh nào đó nhằm vào việc tế tự thì Đức Phật Ngài dạy công việc đó không bằng chúng ta trong một giây phút ngắn ngủi cúng dường đến các bậc Thánh nhân.

(tape 2)lời người chuyển biên: vì đường Net trục trặc ghi âm vị đứt quãng do vậy xin tóm tắt như sau:

Trong một pháp hội, một vị thiên nhân đã ngồi trước các vị thiên tử nên bị các vị thiên tử phản đối. Vị thiên nhân này đã có thời gian phụng sự Tôn Giả Kaccàyana 3 tháng mùa mưa. Vị thiên nhân bạch với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn chỉ có khoảng thời gian 3 tháng con cung dưỡng cúng dường Tôn Giả Kaccàyana. Hôm nay, con ngồi ở đây vì con đến trước con ngồi trước đó là việc rất bình thường, các vị Thiên Tử đến sau thì các vị ngồi sau đó cũng là lẽ tất nhiên. Và con không cảm thấy về phương diện công đức phước báu con thua sút những vị ấy và do vậy con vẫn an vị tại chỗ.

Do vậy. Một việc làm phù hợp với đạo đức ở trong giới luật của bậc Thánh Đức Phật Ngài nói rằng việc làm đó vẫn qúi hơn nhiều.

Chúng tôi xin được phép trình bày ngắn gọn câu kệ ngôn 107 như vậy.

Và trước khi kết luận bài giảng chúng tôi xin được nhắc lại câu chuyện của Đức Phật Ngài kể khi Ngài còn là vị bồ tát tên là Balamon Velama. Trong tiền thân này Đức Phật Ngài kể rằng là khi Ngài ở trong một sanh thủ Ngài làm rất nhiều thiện sự. Trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật Ngài kể khi đó Ngài dành rất nhiều tài sản để làm việc thí, Ngài dành rất nhiều thời gian để làm các công việc từ thiện xã hội. Tuy nhiên với một thời gian dài, với tài sản bỏ ra thì những kết quả Ngài gặt hái được không đáng là bao. Bởi vì trong khoảng thời gian đó Ngài không có gặp một vị Thánh nào và đối tượng của Ngài và cách Ngài làm chỉ là một cách làm của một người có một lòng tốt. Tuy nhiên vì lòng tốt đó chỉ được làm với một suy nghĩ rất đơn giản, do đó kết quả không có to lớn là bao nhiêu

Chúng tôi muốn nói, ngay cả việc làm thiện sự như vậy còn cho chúng ta kết quả chênh lệch khác nhau huống nữa là giữa việc làm thiện và ác thì sẽ có kết quả khác nhau như thế nào. Chúng tôi xin được tóm tắt như vậy ./.